Vietnamese

Do việc hàng hóa dưới hình thái giá cả chỉ được chuyển hóa thành vàng trên ý niệm và do đó vàng chỉ chuyển hóa thành tiền trên ý niệm, nên đã sinh ra học thuyết đơn vị thước đo tiền tệ trên ý niệm. Vì trong việc xác định giá cả, vàng và bạc chỉ là vàng và bạc trên ý niệm, chỉ làm chức năng tiền tệ để tính toán, nên người ta đã cho rằng các chữ pao [pound— B. T.] xtéc-linh [sterling— B. T.], si-linh [shilling— B. T.], pen-ni [penny— B. T.], ta-le [thaler— B. T.], phrăng [franc— B. T.], v. v., không phải để chỉ những phần trọng lượng vàng hay bạc, hay là chỉ lao động đã vật

...

Trong một cuộc tranh cãi ở nghị viện về các đạo luật ngân hàng của ông Robert Peel năm 1844 và 1845[1], Gladstone đã nhận xét rằng ngay tình yêu cũng không làm cho nhiều người bị mất trí như­ việc nghiền ngẫm về bản chất tiền tệ. Gladstone nói về ng­ười Anh và nói với ngư­ời Anh. Ng­ược lại, người Hà Lan — những ngư­ời từ lâu đã có một "trí thông minh thần kỳ" về các việc đầu cơ tiền tệ, tuy Petty không tin như­ vậy, — lại không bao giờ để mất cái trí thông minh của họ ngay cả khi suy luận trừu tượng về tiền tệ.

Thoạt nhìn, của cải trong chế độ tư sản biểu hiện ra là một đống hàng hóa khổng lồ và từng hàng hoá là hình thái tồn tại đơn giản nhất của nó. Nhưng mỗi hàng hóa lại thể hiện dưới hai mặt là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi(1).

Tôi xem xét hệ thống kinh tế tư sản theo thứ tự sau đây: tư bản, sở hữu ruộng đất, lao động làm thuê, nhà nước, ngoại thương, thị trường thế giới. Trong ba mục đầu, tôi nghiên cứu điều kiện sinh hoạt kinh tế của ba giai cấp lớn hợp thành xã hội tư sản hiện đại; còn mối liên hệ lẫn nhau giữa ba mục sau thì rất rõ ràng. Phần thứ nhất trong quyển một, bàn về tư bản, gồm mấy chương như sau:

Cuốn sách nhỏ này xuất hiện lần đầu dưới dạng một loạt bài báo, được đăng trên tờ "Neue Rheinische Zeitung", bắt đầu từ ngày 4 tháng Tư 1849. Phần nội dung được lấy từ các bài thuyết trình mà Marx đọc trước Câu lạc bộ Công nhân Đức ở Brussels hồi năm 1847. Loạt bài báo đó không bao giờ được hoàn thành. Lời hẹn "còn tiếp" ở cuối bài viết đăng trên số 269 đã không được thực hiện, do một loạt sự kiện xảy ra vào thời gian đó - quân Nga tiến vào Hungary, các cuộc khởi nghĩa ở Dresden, Iserlohn, Elberfeld, Pfalz và Baden - dẫn đến việc tờ báo bị đình bản vào ngày 19 tháng Năm 1849. Và trong các giấy tờ mà Marx để lại, người ta không tìm thấy bản thảo nào viết tiếp loạt bài kia.

Bản thảo là một loạt các ghi chú của K.Marx được viết trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1844. Nó chưa bao giờ được xuất bản khi ông còn sống mà chỉ được xuất bản lần đầu năm 1932 bởi nỗ lực của các nhà nghiên cứu Liên Xô.

Tác phẩm này của Alan Woods, cung cấp cho chúng ta một giải thích toàn diện về phương pháp Marxist áp dụng vào phân tích lịch sử. Phần đầu này thiết lập cơ sở khoa học cho chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nguyên nhân tận cùng của mọi sự thay đổi xã hội có thể được tìm thấy, không phải từ bên trong bộ óc của nhân loại, mà từ những thay đổi trong phương thức sản xuất.

Chủ nghĩa Marx thường xác định bản thân nó là chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều đó khiến nó là một khoa học ứng dụng với mục tiêu chính trị cụ thể. Chẳng hạn, khi Engels đọc điếu văn tại đám tang của Marx, ông nói rằng Marx trên hết là một nhà cách mạng. Nhưng tiền đề cơ bản của thế giới quan của Marx chính là cách mạng chỉ có thể thành công nếu như nó đặt nền tảng trên sự hiểu biết về những quá trình vận động trong xã hội một cách tổng thể.

Người ta không biết gì nhiều về một người mà chúng ta biết là Hieronymus Bosch. Ngay cả cái tên ấy cũng không phải tên ông, mà là nghệ danh ông dùng để ký lên các tác phẩm của mình. Tên thật của ông là Jeroe Antroniszoon van Aken, sinh vào quãng năm 1450 tại một thị trấn thương mại sầm uất s’-Hertogenbosch ở Hà Lan, gần biên giới nước Đức. Đó là một thị trấn có 25.000 người sinh sống. Ở đó dệt len là công nghiệp quan trọng nhất. Nhưng nó cũng được biết đến là nơi có những người thợ làm đàn organ, thợ đúc chuông, thợ in và thợ rèn làm dao, vũ khí và đinh. Khoảng 90% dân số làm nông nghiệp.

Tiền là gì? tiền từ đâu đến? tiền đại diện cho cái gì?

Đôi lúc người ta có cảm giác rằng nhân loại đang bên bờ vực thẳm. Lan tràn những cuốn sách và bài viết hứa hẹn giải thích làm thế nào mà chúng ta đi đến kết cục như vậy. Sapiens: Lược sử loài người của tác giả Yuval Noah Harari là một trong số những cuốn sách như vậy. Nó được đông đảo độc giả đón nhận, đã bán ra hơn 10 triệu cuốn, được Barack Obama và Mark Zuckerberg ca tụng. Ở mức độ công nhận ấy, câu hỏi đặt ra là: cuốn Sapiens đã đưa ra những lý giải gì?

Trong bài viết này, Ben Curry giải thích sự phát triển của tư tưởng khoa học dưới quan điểm Marxist. Ben giới thiệu về thế giới quan duy vật biện chứng, giải thích nó áp dụng vào thế giới tự nhiên như thế nào và cho thấy làm thế nào mà các nhà triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại đã đặt nền móng cho khoa học hiện đại. Khoa học bao giờ cũng có gốc rễ từ xã hội có giai cấp, và thiếu thế giới quan duy vật biện chứng làm một số nhà khoa học hiện đại trở lại chủ nghĩa duy tâm và thần bí cái mà tư sản đã từng đấu tranh trong giai đoạn cách mạng của nó.

Năm ngoái, những cuộc khủng hoảng hiến pháp đã nảy sinh ở Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Ba Lan, và Brazil. Những cuộc khủng hoảng ấy thể hiện vấn đề lớn của giai cấp thống trị bởi vì nhà nước và luật hiến pháp bao quanh nó, đã bị huyền bí hóa một cách có chủ tâm. Nền dân chủ đại nghị và Pháp trị (Rule of Law)1 được xem là những tư tưởng bất biến đã được đan dệt vào kết cấu của vũ trụ. Do vậy những khủng hoảng nảy sinh trên cấu trúc của bản thân nhà nước tư sản, đe dọa xua tan ánh hào quang của nó khỏi sự huyền bí và quyền năng.