MARX, KEYNES, HAYEK VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN - PHẦN 2

Keynes coi thường sự lý tưởng hóa và giáo điều của các nhà kinh tế tư sản đương thời với ông, những người đã phải đối mặt với khủng hoảng trong cuộc Đại suy thoái và sự thất bại rõ ràng của thị trường tự do nhưng đã từ chối phủ nhận các giả định của họ, bao gồm cả Luật Say và niềm tin vào bàn tay vô hình. Trong bài phê bình của mình về các nhà kinh tế cổ điển, Keynes đã nói rằng:


“Những tác gia của truyền thống cổ điển, khi xem xét giả thuyết đặc biệt dựa trên lý thuyết của họ, dẫn tới phần kết luận chắc như đinh đóng cột, hợp lý một cách hoàn hảo với giả thuyết của họ, rằng rõ ràng thất nghiệp (ngoài các trường hợp ngoại lệ được thừa nhận) cần phải chạm đáy từ chối bởi các yếu tố thất nghiệp để chấp nhận một phần thưởng tương ứng với năng suất cận biên của họ …

Các lý thuyết gia cổ điển cũng giống nhà hình học Euclide trong một thế giới phi Euclide, người phát hiện ra rằng theo kinh nghiệm thì các đường thẳng tương đối song song thường sẽ gặp nhau, và trách rằng các đường thẳng đã không giữ được thẳng là nguyên do duy nhất cho các va chạm đáng tiếc đang xảy ra. Tuy nhiên, thực sự không có biện pháp khắc phục nào khác ngoài việc đưa ra tiên đề của sự tương đồng và tìm ra một hình học phi Euclide. Một điều tương tự cũng cần được áp dụng vào trong kinh tế học ngày nay. (Lý thuyết chung, Chương 2; Keynes)

Đáp lại các đồng nghiệp của mình trong cộng đồng chính trị và kinh tế, những người theo đuổi giải pháp về “cung” cho các vấn đề thất nghiệp và suy thoái kinh tế - nghĩa là xóa bỏ rào cản đối với thị trường tự do, như công đoàn chẳng hạn, từ quan điểm của các nhà kinh tế học này hạn chế năng lực của thị trường cho thấy trạng thái “cân bằng tự nhiên” của tiền lương - Keynes bẻ cong cây gậy theo hướng ngược lại và chỉ đơn giản tập trung vào câu hỏi về nhu cầu, hay “cầu hiệu quả” như ông đã đề cập - tức là khả năng của các nhà sản xuất hàng hóa để tìm được một người mua sẵn lòng trả hóa đơn (tương phản với nhu cầu trong nghĩa là “cần thiết” hay “mong muốn” của xã hội).

Như chúng tôi đã giải thích ở nơi khác, Keynes nhận thấy khủng hoảng trong Đại suy thoái là một cái vòng luẩn quẩn trong đó tỷ lệ thất nghiệp cao dẫn đến giảm nhu cầu hàng hóa hiệu quả, từ đó khiến doanh nghiệp giảm quy mô hoặc đóng cửa, và do đó thất nghiệp lại gia tăng. Trong tình huống như vậy, Keynes tin rằng kích thích của chính phủ là cần thiết để gia tăng cầu hiệu quả và do đó biến vòng luẩn quẩn này thành một vòng tròn đạo đức, với nhu cầu ngày càng tăng từ chính phủ dẫn sẽ dẫn đến sự mở rộng sản xuất và việc làm, do đó tiền lương lớn hơn và mở rộng nhu cầu về hàng tiêu dùng, v.v...

Đối với Keynes, bất kỳ kích thích nào cũng sẽ là thích đáng, khi ông bình luận gượng gạo trong Lý thuyết tổng quát:

“ Xây dựng Kim tự tháp, trận động đất, hay thậm chí là chiến tranh đều có thể phục vụ để gia tăng sự giàu có, trong khi nền giáo dục của các chính khách của chúng ta về các nguyên tắc của kinh tế học cổ điển đang cản trở mọi thứ tốt hơn …

“... Nếu Kho bạc đã lấp đầy các chai cũ bằng giấy bạc ngân hàng, hãy chôn chúng ở độ sâu phù hợp trong các mỏ than không sử dụng, sau đó lấp đầy lên bề mặt bằng rác thải của thành phố, và để lại cho doanh nghiệp tư bản đã qua được thử thách của chính sách Laissez-faire đào xới lại một lần nữa (quyền được làm như vậy, lẽ dĩ nhiên, phải thông qua cuộc đấu thầu cho thuê đất ấy), sẽ không cần thêm thất nghiệp nữa và, cùng với sự tương hỗ của những hệ quả, thu nhập thực tế của cộng đồng, và cả lợi nhuận tư bản nữa, đó hẳn sẽ trở thành một thỏa hiệp tốt hơn trên thực tế. Thật vậy, sẽ hợp lý hơn khi xây dựng nhà cửa và những thứ tương tự; nhưng nếu theo cách này sẽ có những khó khăn về chính trị và thực tiễn, thì những điều trên sẽ tốt hơn là không có gì. (Lý thuyết chung; chương 10; Keynes)

Thỏa thuận mới vào những năm 1930 ở Hoa Kỳ thường được coi như một ví dụ thành công của các chính sách của Keynes, nhưng như tập phim “Bậc thầy kiếm tiền” đã nhấn mạnh, đó chỉ là sự quân sự hóa nền kinh tế trong Thế chiến II đã chấm dứt Đại suy thoái, một quá trình kết thúc trong cái chết của hàng triệu người, sự phá hủy một lượng lớn năng lực sản xuất của xã hội và để lại một khoản nợ công hơn 200% GDP ở các quốc gia như Anh - hầu hết trong đó không thể coi là thành công!

Tiêu thụ dưới mức và sản xuất thừa

Về bản chất, lời giải thích cho khủng hoảng của Keynes là học thuyết về “Tiêu thụ dưới mức”- tức là sự thiếu nhu cầu của người tiêu dùng đối với các mặt hàng được sản xuất. Ngược lại, như chúng tôi đã giải thích ở nơi khác, chủ nghĩa Marx coi khủng hoảng tư bản là một cuộc khủng hoảng của sản xuất dư thừa - tức là chủ nghĩa tư bản vốn không thể tìm được thị trường cho tất cả các mặt hàng được sản xuất ra. Điều này xuất phát từ thực tế rằng chủ nghĩa tư bản sản xuất là vì lợi nhuận, mà lợi nhuận này đơn giản là lao động không được trả lương của giai cấp công nhân. Nói cách khác, tầng lớp lao động luôn được trả lại ít tiền lương hơn giá trị mà nó đã tạo ra trong quá trình lao động; và do đó khả năng họ mua lại hàng hóa mà họ đã sản xuất luôn nhỏ hơn tổng giá trị của những hàng hóa này. Hàng hóa được sản xuất nhưng không thể bán được; lợi nhuận là không thể có và tiếp đó là ngừng sản xuất, cả hệ thống rơi vào khủng hoảng.

Ý tưởng của Keynes về việc tạo ra nhu cầu thông qua kích thích của chính phủ xét tới cùng là duy tâm và phi biện chứng. Một câu hỏi đơn giản được đặt ra: chính phủ lấy tiền từ đâu để kích thích? Nếu tiền đến từ thuế, thì điều này cũng có nghĩa là đánh thuế vào giai cấp tư sản, là gặm nhấm vào lợi nhuận của họ, sẽ tạo ra một cuộc triệt thoái vốn và do đó làm giảm đầu tư; hoặc đánh thuế giai cấp công nhân, điều này sẽ làm giảm sức tiêu thụ của họ và do đó làm giảm nhu cầu - trái ngược với những dự định mà kích thích của chính phủ mong muốn!

Trong thời hiện đại, chính phủ đang ngày càng phải vay thêm tiền từ thị trường tài chính, thông qua bán trái phiếu chính phủ. Nhưng với việc ngân hàng rút tiền và sự sụp đổ của các khoản thu thuế, các quốc gia đã bị bỏ lại với các khoản nợ công và thâm hụt lớn, bởi vậy thị trường tài chính toàn cầu, thay vì tài trợ cho chính phủ vay thêm, họ khăng khăng rằng các chính phủ cần cắt giảm chi tiêu công.

Đối với các nhà Keynes học và các nhà lãnh đạo cải cách trong phong trào lao động được truyền cảm hứng từ những ý tưởng của Keynes, câu trả lời rất đơn giản: chúng ta phải đánh thuế người giàu và tăng lương! Nhưng theo chủ nghĩa tư bản, như chúng tôi đã giải thích ở trên, sản xuất là vì lợi nhuận và giai cấp công nhân không bao giờ có thể nhận được bằng tiền lương toàn bộ giá trị của hàng hóa mà họ sản xuất, như Marx đã giải thích trong bộ Tư bản để trả lời các lý thuyết về tiêu dùng trong thời của ông:

“Hoàn toàn là tautologic khi nói rằng các cuộc khủng hoảng là do sự khan hiếm của tiêu dùng hiệu quả, hoặc của người tiêu dùng hiệu quả. Hệ thống tư bản không biết bất kỳ phương thức tiêu dùng nào khác ngoài các phương thức hiệu quả, ngoại trừ phương thức phụ pauperis hoặc của kẻ lừa đảo. Hàng hóa thực sự không bán được chỉ khi không tìm được cho chúng sức mua hiệu quả, hay người tiêu dùng (vì hàng hóa được mua trong phân tích cuối cùng là để tiêu dùng trong sản xuất hoặc sử dụng cá nhân). Nhưng nếu người ta cố gắng đưa công thức tautology này thành một sự biện minh sâu sắc khi nói rằng tầng lớp lao động nhận được một phần quá nhỏ những gì mình sản xuất và điều tệ hại sẽ được khắc phục ngay khi họ nhận được phần lớn hơn, như là kết quả của tăng tiền lương, người ta có thể nhận ra rằng các cuộc khủng hoảng luôn được chuẩn bị bởi chính xác là giai đoạn mà tiền lương nhìn chung tăng lên và tầng lớp lao động thực sự có được một phần lớn hơn trong phần sản phẩm hàng năm dành cho tiêu dùng. Mà từ quan điểm của những người ủng hộ sự hoàn chỉnh và giản đơn (!), một khoảng thời gian như vậy đáng nhẽ sẽ loại bỏ khủng hoảng. Sau nữa, có vẻ như sản xuất tư bản chủ nghĩa bao gồm các điều kiện độc lập với cái tốt hay xấu, điều kiện cho phép tầng lớp lao động được hưởng sự thịnh vượng tương đối đó chỉ là trong giây lát và luôn luôn là điềm báo cho cuộc khủng hoảng sắp tới. ( Tư Bản, quyển II, chương 20; Marx)

Lời giải thích của Keynes về khủng hoảng, trên thực tế, không thực sự là một đáp án cho nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa. Tốt nhất có thể thì đó là một câu trả lời cho sự tiếp tục hay ngày càng sâu sắc của cuộc khủng hoảng đã tồn tại trong nền kinh tế, hoặc một gợi ý về cách mà các chính phủ có thể cố gắng thoát khỏi khủng hoảng mà vẫn trong giới hạn của chủ nghĩa tư bản. Nếu như thiếu nhu cầu hiệu quả - tức là tiêu thụ dưới mức - bị đổ lỗi cho cuộc khủng hoảng, thì chắc chắn ta phải đặt câu hỏi: điều gì đã dẫn đến việc tiêu thụ dưới mức ngay từ đầu? Như Engels chỉ ra trong cuộc bút chiến chống lại Duhring:

“[S]ự tiêu thụ dưới mức của quần chúng, hay hạn chế tiêu dùng những gì là tối cần thiết cho việc duy trì và tái sản xuất của chính họ, không phải là một hiện tượng mới. Nó đã và vẫn luôn tồn tại chừng nào còn kẻ khai thác và người bị khai thác …”

“... Sự tiêu thụ dưới mức của quần chúng là điều kiện cần của mọi hình thái xã hội dựa trên sự bóc lột, và do đó cũng là thuộc tính của chủ nghĩa tư bản; đồng thời chính là thuộc tính của chủ nghĩa tư bản đã làm phát sinh khủng hoảng. Do đó, sự tiêu thụ dưới mức của quần chúng cũng là điều kiện tiên quyết của các cuộc khủng hoảng, một vai trò đã được công nhận từ lâu. Nhưng điều đó cho chúng ta biết rất ít lý do vì sao các cuộc khủng hoảng tồn tại ngày hôm nay mà không phải trước đó.” ( Chống Duhring, phần III, chương 3; Engels)

Nói cách khác, mặc dù giai cấp công nhân không bao giờ có thể mua lại tất cả các mặt hàng mà họ đã sản xuất, tại sao chủ nghĩa tư bản không phải lúc nào cũng khủng hoảng?

Trong lịch sử, mâu thuẫn của sản xuất thừa đã được khắc phục thông qua vai trò của đầu tư, theo đó các nhà tư bản liên tục chi tiêu và tái đầu tư một phần lớn lợi nhuận của họ vào các phương tiện sản xuất mới - nghiên cứu và máy móc mới, để cải thiện năng suất, giảm chi phí, mở rộng thị trường và gia tăng lợi nhuận hơn nữa. Như đã giải thích trước đó, chính khoản đầu tư này, phát sinh từ sự cạnh tranh và theo đuổi lợi nhuận, đã cho phép chủ nghĩa tư bản đóng một vai trò tiến bộ trong lịch sử trong việc phát triển các phương tiện sản xuất. Nhưng cũng như đã giải thích trước đó, việc tái đầu tư lợi nhuận này, thay vì giải quyết mâu thuẫn của sản xuất thừa và khôi phục trạng thái cân bằng của nền kinh tế, chỉ tạo ra một lực lượng sản xuất lớn hơn - sản xuất số lượng hàng hóa và giá trị lớn hơn, để bán trên một thị trường bị hạn chế - Như vậy là làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn và mở đường cho một cuộc khủng hoảng còn lớn hơn trong tương lai.

Đầu tư không hiệu quả - chẳng hạn như ví dụ được đưa ra trước đó bởi Keynes về việc chôn những chai cũ chứa đầy tiền giấy - cũng đã được sử dụng trong quá khứ để cung cấp cầu và tạo việc làm. Ví dụ, có một số người được gọi là Marxist trong thời kỳ bùng nổ sau chiến tranh tin rằng chi tiêu quân sự của các chính phủ có thể được sử dụng để ngăn chặn vĩnh viễn một cuộc khủng hoảng. Nhưng như đã được chỉ ra, các chính phủ không thể đơn giản tạo ra nhu cầu của người dùng; trong thực tế, họ phải tăng tiền bằng cách lấy một phần của cải từ tầng lớp tư sản hoặc từ tầng lớp lao động. Khoản đầu tư không hiệu quả này là chi tiêu mà không tạo ra bất kỳ giá trị thực nào và đóng vai trò như vốn ảo, cuối cùng sẽ tạo ra lạm phát - tức là làm tăng lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế mà không tạo ra giá trị tương đương cùng lưu hành. Đây chính xác là những gì được thấy ở thời kỳ bùng nổ sau chiến tranh, nhờ vào chính sách của Keynes đã dẫn tới khủng hoảng trong những năm thập niên 70, trong đó sự trì trệ của kinh tế song hành cùng gia tăng lạm phát - Trước đây chưa từng có hiện tượng được gọi là “lạm phát”.

Tất cả những điều này một lần nữa cho thấy bản chất phi khoa học và máy móc của chủ nghĩa Keynes và các giải pháp cải cách khác đối với cuộc khủng hoảng, đã không theo được tới cùng những kết luận hợp lý sẽ rút ra từ những đề xuất của họ. Nếu đầu tư được sử dụng để ngăn chặn khủng hoảng, điều này có nghĩa là đầu tư vào một thứ vật chất - tức là phương tiện sản xuất, sau đó sẽ phải sản xuất thêm hàng hóa, mà do đó gia tăng khủng hoảng sản xuất thừa. Nếu tiền lương được tăng lên để tăng nhu cầu, điều này có nghĩa là cắn vào lợi nhuận của các nhà tư bản; nhưng điều này, đến lượt nó, lại làm giảm đầu tư, điều mà trong chủ nghĩa tư bản được thực hiện chỉ để tìm kiếm lợi nhuận. Nếu nhu cầu được “tạo ra” thông qua kích thích của chính phủ, thì thực tế, điều này đồng nghĩa với việc lấy tiền từ các nhà tư bản tức là cắn vào lợi nhuận, hoặc lấy tiền từ tầng lớp lao động tức là cắn vào cầu của người tiêu dùng.

Trái ngược với kinh tế học tư sản, chủ nghĩa Marx tìm cách xem xét nền kinh tế một cách biện chứng - nghĩa là, chủ nghĩa Marx tìm cách khám phá ý nghĩa đầy đủ của bất kỳ sự vận động nào; để thấy sự kết nối và phản hồi giữa những quá trình và hiện tượng khác nhau; để xem xét hệ thống trong sự vận động với tất cả sự phức tạp của nó. Kinh tế học mácxít là sự xem xét những mâu thuẫn trong các quá trình liên tục diễn ra, để thấy được những mâu thuẫn này luôn có thể giải quyết được, nhưng chỉ bằng cách tạo ra những mâu thuẫn mới trong quá trình. Đó là trường hợp của chủ nghĩa tư bản: một cuộc khủng hoảng luôn có thể được tạm thời ngăn chặn, nhưng điều này chỉ là để gia tăng thêm mâu thuẫn và mở đường cho một cuộc khủng hoảng lớn hơn trong tương lai.

Ngoài ra, không giống như các nhà kinh tế học tư sản, những người theo chủ nghĩa Mác không tách rời những phân tích kinh tế của mình khỏi phân tích chung về xã hội. Nền kinh tế được tạo thành từ cuộc sống, từ hơi thở của con người; như Lenin đã nói, “chính trị là sự tập trung của kinh tế”. Giai cấp thống trị luôn có thể khôi phục sự ổn định trong nền kinh tế, nhưng chỉ bằng cách gây ra bất ổn chính trị và đấu tranh giai cấp trong xã hội.

Trong phân tích cuối cùng, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản không chỉ đơn giản là kết quả của quá trình này hay quá trình khác; mâu thuẫn này hay kia. Khủng hoảng là kết quả của nhiều quá trình tương tác và mâu thuẫn trong chính chủ nghĩa tư bản. Như Marx từng nói trong Tư bản luận:

“Sản xuất Tư bản chủ nghĩa luôn tìm cách vượt qua những rào cản nội tại, nhưng vượt qua chúng chỉ bằng cách đặt lại những rào cản này theo cùng một cách nhưng trên một quy mô kinh khủng hơn.

“Những rào cản thực sự của sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là tư bản. Đó chính là tư bản và sự tự mở rộng của nó hiện ra như là điểm khởi đầu cũng là điểm kết thúc, động lực và cũng là mục đích của sản xuất; sản xuất chính là sản xuất tư bản mà không phải ngược lại, các phương tiện sản xuất không chỉ là phương tiện cho sự mở rộng không ngừng của quá trình sống của xã hội của các nhà sản xuất. Các giới hạn mà trong đó việc bảo toàn và tự mở rộng giá trị của tư bản dựa trên sự sung công và chiếm đoạt từ một khối lượng lớn các nhà sản xuất di chuyển đơn độc - những giới hạn này liên tục mâu thuẫn với các phương thức sản xuất được tư bản sử dụng cho mục đích của chính nó, hướng tới sự mở rộng sản xuất một cách vô hạn, hướng tới sự sản xuất như là một sự kết thúc của chính nó, hướng tới sự phát triển tuyệt đối năng suất xã hội của lao động. Các phương tiện - sự phát triển tuyệt đối lực lượng sản xuất của xã hội - liên tục mâu thuẫn với mục đích hạn chế, tự mở rộng của tư bản hiện có. Vì lý do này, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vừa là một phương tiện lịch sử để phát triển lực lượng sản xuất vật chất và tạo ra một thị trường thế giới tương ứng, đồng thời, liên tục luôn gây ra xung đột giữa nhiệm vụ lịch sử này với mục đích riêng của nó, chính là mối quan hệ của sản xuất xã hội.” ( Tư bản, quyển III, chương 15; Marx)

Keynes, lợi nhuận và đầu tư

Như tập phim về “các bậc thầy về tiền bạc” phần Keynes đã chỉ ra, Keynes có thể nhận ra sự kết nối của hệ thống tư bản, trong đó chi phí tiền lương của một nhà tư bản chính là thị trường cho một nhà tư bản khác, và do đó có lẽ là hợp lý và cần thiết cho một nhà tư bản - để cắt giảm chi phí tiền lương - nhưng không nhất thiết là hợp lý cho các nhà tư bản nói chung. Tuy nhiên, trên thực tế, Keynes không nhận thấy mối quan hệ liên kết giữa tiền lương và lợi nhuận - rằng đây chỉ là hai mặt của một đồng tiền, cả hai chỉ đại diện cho một tỷ lệ chia của tổng giá trị được tạo ra bởi tầng lớp lao động thông qua việc sử dụng lao động - rằng tăng cái này bắt buộc phải cắt cái kia và ngược lại. Do đó, những người theo Keynes đã không có khả năng nhận ra rằng việc khắc phục tình trạng “tiêu thụ dưới mức” - tức là vượt qua sự thiếu cầu bằng cách tăng lương hoặc kích thích chỉ có thể tạo ra mâu thuẫn mới bởi sự giảm lợi nhuận cho các nhà tư bản và dẫn đến một cuộc đình công vốn - tức là giảm đầu tư.

Keynes định nghĩa tổng nhu cầu trong xã hội, còn được gọi là tổng cầu, trong kinh tế vĩ mô, bằng với tổng thu nhập, cũng bằng tổng sản lượng. Theo Keynes tổng cầu này bao gồm chủ yếu từ hai nguồn: Tiêu dùng từ các hộ gia đình và đầu tư của các công ty. Định nghĩa này tương tự như hai bộ phận của Marx, được định nghĩa trong Tập II, sản xuất hàng hóa tư bản (bộ phận một) và sản xuất hàng tiêu dùng (bộ phận hai). Tuy nhiên, không giống như Marx, Keynes đã không chia hai bộ phận này thành các thành phần giá trị khác nhau: hằng số, biến số và thặng dư.

Trong suốt Tư bản luận, Marx thường nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm tra toàn bộ nền kinh tế, thay vì chỉ cô lập các khía cạnh cụ thể của hệ thống hoặc tập trung vào hành vi của các cá nhân và giao dịch đơn lẻ. Tuy nhiên, Marx cũng chỉ ra rằng chính sự tương tác biện chứng giữa các mặt đối lập trong tổng thể này - giữa lao động và tư bản; giữa tiền lương và lợi nhuận; giữa bộ phận một và bộ phận hai - cùng với các mô hình xuất hiện từ các hành động vô chính phủ và hỗn loạn (và hợp lý) của nhiều cá nhân nhà tư bản khác nhau, là chìa khóa để hiểu bản chất năng động và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản.

Như đã đề cập trước đó, các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx không thể hiểu được nguồn gốc của lợi nhuận, do họ xem xét nền kinh tế như là một kiểu “Robinson Crusoe”, hệ thống trên hoang đảo, trong đó một người vừa là nhà sản xuất vừa là người tiêu dùng với một giao dịch đơn giản giữa một người mua và một người bán, theo đó lợi nhuận được tạo ra một cách đơn giản trong quá trình lưu thông bằng cách mua rẻ và bán đắt. Trong cả hai trường hợp, bằng cách hạ thấp nền kinh tế xuống một cá thể hoặc một cặp cá thể, sự phân chia xã hội thành các giai cấp đã biến mất.

Ngược lại, chủ nghĩa Keynes, dựa trên nền kinh tế vĩ mô hiện đại, đi đến một kết quả tương tự với các nhà kinh tế học cổ điển trước Mác, nhưng từ hướng ngược lại: bằng cách giản hóa toàn bộ nền kinh tế vào một phương trình hoặc một lược đồ tổng cầu, chủ nghĩa Keynes mất đi tầm nhìn về cuộc đấu tranh giai cấp và sự kết nối giữa tiền lương và lợi nhuận, và trên thực tế thường kết thúc trong sự bỏ qua hoàn toàn của vai trò lợi nhuận. Người ta có thể thấy bản chất cơ học của lược đồ Keynes bằng ví dụ về "máy móc của Phillips", hoặc "MONIAC" , một mô hình vật lý cho nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc kinh tế vĩ mô của Keynes sử dụng lưu trữ nước và dòng chảy để đại diện cho các cửa hàng và dòng vốn và tiền, và được cho là qua đó có thể dự đoán hành vi của nền kinh tế thực tế.

Do kết quả của quan điểm tổng thể, phi khoa học, cơ học này, chủ nghĩa Keynes và kinh tế vĩ mô hiện đại không thể giải thích cơ sở vật chất đằng sau sự đầu tư dưới chủ nghĩa tư bản. Theo cách tốt nhất, kinh tế vĩ mô tư sản mô tả đầu tư là một chức năng của lãi suất, với lãi suất thấp hơn cung cấp một động lực cho các nhà đầu tư chi tiêu thay vì tiết kiệm. Nhưng tại thời điểm hiện tại, lãi suất gần như bằng không phần trăm, và vẫn chưa có khoản đầu tư nào được nhìn thấy. Ở hướng tồi tệ nhất, trong khi tiêu dùng từ các hộ gia đình được giải thích một cách vật chất là một chức năng của thu nhập khả dụng, đầu tư của các doanh nghiệp lại được giải thích một cách lý tưởng hóa tới giản đơn là do “Linh hồn động vật”. Ngày nay, một lời giải thích lý tưởng tương tự cho đầu tư được đưa ra là nhu cầu về “sự tự tin của doanh nghiệp”.

Đề xuất về “linh hồn động vật” hay “sự tự tin” rõ ràng là không lý giải được gì. Cần phải hỏi: điều gì gây ra sự tự tin? Lập luận đưa ra trong đáp án thường có tính chất tuần hoàn: doanh nghiệp đầu tư nếu có niềm tin; có niềm tin nếu nền kinh tế đang phát triển; Có tăng trưởng kinh tế nếu có đầu tư; v...v... và v...v... Mặc dù sự thật là sự tự tin, và do dự trước rủi ro đóng vai trò quyết định trong các quyết định của nhà đầu tư, sự tự tin và do dự này cần phải có cơ sở vật chất. Dưới chủ nghĩa tư bản, đầu tư được thực hiện để theo đuổi lợi nhuận; nếu hàng hóa không thể bán được để cho lợi nhuận - Hoặc phải bán tháo tất cả, như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng sản xuất thừa hiện nay - thì sản xuất và đầu tư vào sản xuất mới sẽ không xảy ra.

Không phải sự thiếu tự tin chủ quan gây ra khủng hoảng, mà là khủng hoảng khách quan của chủ nghĩa tư bản gây ra sự thiếu tự tin. Như đã thấy nhiều lần trong giai đoạn gần đây, đã có những cuộc đình công thường xuyên của thị trường chứng khoán để đáp ứng với kế hoạch mới nhất của các nhà chính trị đối với cuộc khủng hoảng; nhưng những cuộc đình công này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, đi lên như một tên lửa và rơi xuống như một cây gậy, khi những mâu thuẫn xuất hiện trở lại và giai đoạn tiếp theo của cuộc khủng hoảng xuất hiện.

Các số liệu cho cuộc khủng hoảng hiện nay nhấn mạnh mâu thuẫn của sản xuất thừa liên quan đến đầu tư: năm 1990, đầu tư kinh doanh ở Anh xấp xỉ 14% GDP mỗi năm, nhưng đã giảm xuống dưới 8% hiện nay; mặt khác, dự trữ của các công ty Anh hiện đã ở mức 700 tỷ bảng tiền mặt. Đồng thời, các doanh nghiệp đã sống sót trong cuộc khủng hoảng với lợi nhuận kỷ lục, như Economist (Ngày 31 tháng 3 năm 2012) giải thích:

“Bốn năm vừa qua rất tệ cho người lao động và người tiết kiệm nhưng tốt cho khu vực doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận ở Mỹ cao hơn bất cứ lúc nào trong 65 năm qua …

“... Lợi nhuận đã được thúc đẩy bởi sự kiểm soát chặt chẽ chi phí lao động của các công ty và bằng cách giảm mức lãi suất do chính sách của các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới giàu có …

“... Tuy nhiên, mức lợi nhuận cao hiện tại không dẫn đến sự gia tăng đầu tư. Theo tỷ lệ GDP, đầu tư kinh doanh của Mỹ gần với mức thấp nhất trong 30 năm qua…

“... tỷ lệ lợi nhuận cao của GDP chỉ đơn giản là hệ quả của tỷ lệ thấp do lao động …

"Các công ty Mỹ và châu Âu đang lựa chọn chi tiền mặt của họ cho việc sáp nhập hoặc mua lại thay vì chi tiêu vốn.”

Nói cách khác, thay vì đầu tư vào các phương tiện sản xuất mới, để sản xuất hàng hóa mới đồng thời tìm thị trường và bán hàng hóa, các doanh nghiệp nhận ra rằng có một công suất quá mức trong hệ thống, và do đó họ chọn cách chi tiêu vào việc mua lại các công ty hiện có - tức là các phương tiện sản xuất hiện có. Quá trình này dẫn đến sự tập trung vốn, nhưng không tạo ra bất kỳ giá trị mới. Thay vì được sử dụng để phát triển các phương tiện sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết về mặt xã hội, của cải bị lãng phí bởi sự tích lũy của tầng lớp tư bản.

Tờ Economist ( Ngày 21 tháng 7 năm 2012) tiếp tục làm nổi bật vai trò của cuộc khủng hoảng thừa trong việc gây ra mức độ thấp trong đầu tư:

“Khoảng cách lớn tại thời điểm này là giữa công nhân và các tập đoàn. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao và mức tăng lương khó có thể đạt được, lợi nhuận của công ty đang chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP của Mỹ so với trước cuộc khủng hoảng tài chính …

“... Một mức lợi nhuận cao từ vốn nên khuyến khích một làn sóng đầu tư. Sự gia tăng năng suất sẽ làm gia tăng cạnh tranh và giảm doanh số. Nhưng điều đó vẫn chưa xảy ra: các công ty đang tích trữ tiền mặt …

“... Các công ty không muốn đầu tư khi đối mặt với nhu cầu yếu. Người tiêu dùng trong nước đã chịu áp lực từ thắt lưng buộc bụng và giá hàng hóa cao hơn; cuộc khủng hoảng của khu vực đồng euro và sự chậm lại ở các nền kinh tế đang phát triển đang đè nặng lên triển vọng xuất khẩu. Các công ty có thể đã vắt sữa tất cả những gì họ có thể từ cải thiện năng suất. Trớ trêu thay ở đây là tỷ lệ GDP lợi nhuận cao sẽ tự động dẫn đến tỷ lệ tiền lương thấp và do đó cuối cùng có thể tự giới hạn - một kết quả tích cực với chủ nghĩa Mác.”