CUỘC ĐẤU TRANH ĐEN VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (PHẦN I)

Hoa Kỳ là quốc gia giàu có và quyền lực nhất hành tinh, với sự giàu có thừa đủ để cung cấp một cuộc sống chất lượng cao cho mọi người sống ở nơi đây. Vậy mà, sự bất bình đẳng đáng kinh tởm và nọc độc của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc lan tràn khắp mọi nơi, và thực sự thì không thể thiếu để duy trì sự thống trị của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ. Bất chấp những cuộc đấu tranh lớn trong quá khứ và những cải cách của bốn mươi năm qua, Người da đen, cùng với các nhóm dân tộc và chủng tộc thiểu số khác, vẫn là tầng lớp bị bóc lột và áp bức nhất trong xã hội Hoa Kỳ. Thanh niên da đen phải đối mặt với sự quấy rối và đe dọa hàng ngày của cảnh sát và phải chịu tỷ lệ thất nghiệp cao một cách không tương xứng. Người da đen chỉ chiếm 13 phần trăm dân số, nhưng vẫn bị nhà nước giam cầm và xử tử với tỷ lệ cao hơn nhiều. Người da đen tiếp tục chịu đựng sự dè bỉu và bạo lực dưới bàn tay của nhà nước, phân biệt chủng tộc có tổ chức và cá biệt, cũng như bị buộc phải sống trong điều kiện đói nghèo, bóc lột và áp bức.


Thảm họa bão Katrina và hậu quả của nó đã tiết lộ nền tảng đen tối của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sự nghèo đói và nỗi thờ ơ đến nhẫn tâm trước sự đau khổ của hàng triệu người Mỹ. Việc tái quy hoạch các khu vực nội thành để nhường chỗ cho các khu căn hộ và khu thương mại cao cấp đã buộc hàng trăm nghìn người phải di dời, phá hủy nhiều cộng đồng chủ yếu là người da đen trên cả nước. Trước kia 67% dân số là người da đen, thì nay ở New Orleans ước tính chỉ còn khoảng 58% là người Mỹ gốc Phi. Hàng chục ngàn người thuộc tầng lớp lao động và gia đình nghèo đã phải di dời và có thể không bao giờ có thể quay trở lại. Những khu vực của thành phố đã nhận được nhiều tài trợ và đầu tư nhất hiện nay chủ yếu là của người da trắng. Sau khi cơn bão ập đến, Nghị sĩ Cộng hòa Richard Baker của Louisiana đã nói điều này liên quan tới sự di dời ép buộc của người nghèo, phần lớn họ là cư dân da đen của một khu phố nằm gần khu phố Pháp nổi tiếng và do đó sinh lời: “Cuối cùng, chúng tôi đã dọn sạch nhà ở công cộng ở New Orleans. Chúng tôi đã không thể làm điều đó, nhưng Chúa đã làm được.”

Nhiều năm phân biệt chủng tộc, quấy rối của cảnh sát và các điều kiện xã hội khủng khiếp đã tạo ra một sự pha trộn đầy biến động ở nhiều thành phố, đặc biệt là trong giới trẻ Đen và Latinh. Điều này đã phun trào định kỳ trong các vụ bùng nổ xã hội, ví dụ, các cuộc bạo loạn năm 1992 ở Los Angeles, một trong những thành phố giàu nhất nước Mỹ. Nhưng bạo loạn không tách rời khỏi viễn cảnh và sự xuất hiện của những điều kiện nghèo đói. Nếu các nhà lãnh đạo lao động đưa ra một phương án chiến đấu thực sự, thì năng lượng của những thanh niên này có thể được khai thác theo hướng tích cực.

Trường hợp của Jena Six và các sự cố khác được phát hiện ở nơi làm việc và trường học chứng minh rằng trong khi đã bị bãi bỏ trên giấy tờ, di sản của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tiếp tục bao trùm lên toàn bộ đất nước. Nọc độc của phân biệt chủng tộc được giai cấp thống trị cố tình thúc đẩy như một phương tiện để giữ cho giai cấp công nhân bị chia rẽ, chuyển sự chú ý ra khỏi những vấn đề thực sự của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Họ sợ sự trỗi dậy của một tầng lớp lao động da đen hùng mạnh và xu hướng vốn có của nó là đoàn kết hành động với các công nhân khác bất kể chủng tộc hay sắc tộc.

Chính sách "chia để trị" trên các dòng chủng tộc, dân tộc, quốc gia hoặc tôn giáo, là một đặc điểm chung của giai cấp thống trị quốc tế. Như thành viên Black Panther, Bobby Seale đã viết chính xác: “Phân biệt chủng tộc và sự khác biệt sắc tộc cho phép hệ thống quyền lực khai thác số đông công nhân ở đất nước này, bởi vì đó là chìa khóa để họ duy trì sự kiểm soát của mình. Để chia rẽ mọi người và thống trị họ đó là mục tiêu của hệ thống quyền lực…” và như Malcolm X đã giải thích, “bạn không thể có chủ nghĩa tư bản mà không phân biệt chủng tộc.” Nói cách khác, phân biệt chủng tộc là một sản phẩm và bộ phận của chủ nghĩa tư bản, mà không có nó thì không thể tồn tại. Do đó, cách duy nhất để đặt cơ sở cho việc chấm dứt phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử là kết thúc chủ nghĩa tư bản.

Cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử có tầm quan trọng quyết định đối với những người theo chủ nghĩa Marx cách mạng. Chúng tôi chiến đấu mọi lúc để chống lại mọi hình thức áp bức và phân biệt đối xử. Nhưng chúng tôi làm điều này trong cuộc đấu tranh cho sự thống nhất tối đa của giai cấp công nhân vượt qua các giới tính, chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo, luôn liên kết điều này với cuộc đấu tranh cho sự chuyển đổi xã hội chủ nghĩa cách mạng của xã hội. Không có giải pháp nào trong giới hạn của chủ nghĩa tư bản.

Nó trên hết là một câu hỏi giai cấp, và như mọi khi, chúng tôi bắt đầu với chương trình chung của chúng tôi. Nhiệm vụ của chúng tôi, những người Marxist, là nâng cao sự đoàn kết, ý thức và sự tự tin. Chúng tôi không chỉ chiến đấu vì lợi ích trước mắt, mà còn để nâng cao quan điểm và tiềm năng cho nhiều hơn nữa công việc, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và giáo dục cho tất cả dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không chỉ đơn thuần tìm kiếm một “sự công bằng hơn” trong sự khan hiếm của chủ nghĩa tư bản.

Những người dân thường sau bão Katrina được tổ chức xung quanh nhu cầu nhà ở và quyền trở lại, các cuộc vận động để bảo vệ Jena Six và các nỗ lực phôi thai để xây dựng Đảng Tái thiết, đang tiếp cận tất cả những người đang làm việc để xây dựng một đảng mới đại diện cho đa số, là một dấu hiệu của những điều sắp tới. Cuộc đấu tranh giai cấp thống nhất là con đường duy nhất phía trước. Là một bộ phận bị siêu bóc lột trong quần chúng, công nhân và thanh niên da đen sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sắp tới.

Điều kiện mà công nhân và thanh niên da đen phải đối mặt ngày nay

Hơn bốn mươi năm sau cuộc đấu tranh anh hùng của quần chúng da đen và các đồng minh của họ để chống lại sự phân biệt chủng tộc và vì sự bình đẳng, chất lượng cuộc sống của nhiều người Mỹ gốc Phi đã được cải thiện đáng kể. Người Mỹ da đen đã gặt hái thành quả khi nói đến các công việc có thu nhập trung bình trong khu vực công, và có khả năng cao gấp đôi so với người da trắng làm việc cho chính phủ. Năm 2001, hơn một nửa số hộ gia đình da đen đã kết hôn kiếm được từ 50.000 đô la trở lên. Tốt nghiệp trung học và tỷ lệ đi học đại học đã được cải thiện đáng kể. Cải thiện khả năng tiếp cận việc làm và giáo dục đã dẫn đến sự gia tăng của một tầng lớp tiểu tư sản Đen và một tầng lớp công nhân được trả lương tương đối tốt. Kết quả là, một số người da đen là một trong những người giàu có và có ảnh hưởng nhất trong xã hội Hoa Kỳ. Ví dụ, người sáng lập Oprah Winfrey và Black Entertainment TV Bob Johnson là tỷ phú. Những nhân vật như Condoleezza Rice, Colin Powell và Barack Obama đã vươn lên nổi bật về chính trị. Những nhân vật thể thao như Michael Jordan và Kobe Bryant, và những nghệ sĩ giải trí như Michael Jackson và Will Smith tiếp tục trở thành huyền thoại rằng thông qua nỗ lực vượt khó và sự kiên trì, bất cứ ai cũng có thể “tự nâng mình lên bằng dây buộc giày.”

Nhưng bất chấp những cải thiện này đối với một số người, đối với đại đa số công nhân da đen, cùng với phần còn lại của tầng lớp lao động, các điều kiện đang xấu đi nhanh chóng. Không có sự bình đẳng thực sự nào có thể có trong một hệ thống được phân chia giữa giàu và nghèo, một hệ thống sử dụng chủng tộc để phân chia và làm suy yếu giai cấp công nhân. Điều quan trọng đối với chúng tôi, những người Marxist, không phải là màu da của một người, mà là lợi ích giai cấp mà người đó đại diện và bảo vệ. Đại đa số người da đen ở Mỹ là công nhân. Như vậy, họ có cùng lợi ích cơ bản với toàn bộ giai cấp công nhân.

Những người làm việc ở Mỹ phải đối mặt với sự suy giảm ổn định về mức sống và các cuộc tấn công không ngừng từ các doanh nghiệp lớn và chính phủ của họ. Trong ba mươi năm qua, sự chênh lệch giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo đã tăng lên đáng kể. Tiền lương thực tế cho phần lớn công nhân Hoa Kỳ đã tăng trong mỗi thập kỷ từ 1830 đến 1970. Nhưng kể từ giữa những năm 1970, tiền lương thực tế, được điều chỉnh theo lạm phát, đã bị đình trệ hoặc giảm xuống. Vì vậy, trong khi tiền lương thực tế giảm và hàng triệu công nhân công nghiệp bị sa thải từ năm 1998 đến 2006, năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất tăng 43,7%. Điều này biểu thị sự gia tăng lớn trong việc khai thác lao động: ít công nhân đang làm nhiều công việc hơn với mức lương thấp hơn. Những người lao động hoặc bị sa thải hoặc phải làm việc chăm chỉ hơn trong khi được trả ít hơn, trong khi những người giàu trở nên giàu hơn.

Ví dụ, vào năm 2004, thu nhập trung bình tăng 6,8%, nhưng phần lớn mức tăng đã thuộc về một phần mười của một phần trăm tất cả người Mỹ, có thu nhập một năm tăng 27,5%. So với cùng kỳ, thu nhập của 20% dân số nghèo nhất, khoảng 60 triệu người, đã tăng chỉ 1,8%. Nhưng một khi lạm phát được tính đến, kết quả là thu nhập ròng đã giảm.

Sau nhiều năm tỷ lệ nghèo giảm, xu hướng hiện đã bị đảo ngược, và đã có sự gia tăng mạnh mẽ tình trạng nghèo đói trong những năm gần đây. Hiện có 38 triệu người Mỹ, tương đương 13,2% dân số, sống trong nghèo đói. Nhưng đối với người da đen thì tình hình còn tồi tệ hơn. Tỷ lệ nghèo của người da đen ở mức 25,3% (gần 9 triệu người), cao hơn gấp đôi so với người Mỹ da trắng (10,5%, gần 23 triệu người). Phụ nữ da đen đặc biệt có nhiều khả năng sống trong cảnh nghèo đói.

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp chính thức tương đối thấp, nhưng điều này là giả tạo, vì hàng triệu người đã thất nghiệp quá lâu đến nỗi họ thậm chí không còn được coi là đang tìm kiếm việc làm. Nhưng ngay cả những số liệu chính thức cũng chứng minh sự chênh lệch lớn giữa các bộ phận khác nhau của dân số. Năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp của người da trắng là 3,9%, trong khi đối với người da đen là hơn gấp đôi, ở mức 8,2%.

Tình hình thậm chí còn rõ ràng hơn khi nói đến tỷ lệ phạt tù. Hoa Kỳ giam giữ người dân của mình nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên trái đất (thậm chí nhiều hơn Trung Quốc, nơi có số người nhiều gấp bốn lần). Hơn 2,3 triệu người đang ở trong trại giam, tức cứ 99,1 người lớn thì có một người. Một con số đáng kinh ngạc là 1.384 người trong số 100.000 người đang ở trong tù hoặc ở tù. Nhưng tỷ lệ giam giữ đối với nam giới Đen thậm chí còn gây sốc hơn: 4,789 trên 100.000. Thử so sánh điều này với đỉnh cao của Apartheid ở Nam Phi (1993), khi 851 trên 100.000 nam giới da đen bị cầm tù. Và đối với những người đàn ông da đen trẻ tuổi từ 25 đến 29, tỷ lệ này là 11.695 trên 100.000 người, tức 11,7%, con số đáng kinh ngạc.

Cái gọi là cuộc chiến chống ma túy, đã được sử dụng để nhắm vào những người da đen nghèo, thuộc tầng lớp lao động và các nhóm thiểu số khác nhằm tước quyền, hình sự hóa và nghiền nát khát vọng của họ để có một cuộc sống tốt hơn. Ví dụ, các hướng dẫn tuyên án sở hữu cocaine crack, vốn chiếm ưu thế hơn nhiều ở các khu dân cư nghèo, dân tộc thiểu số, trong lịch sử khắc nghiệt hơn 100 lần so với việc sở hữu cocaine dạng bột, là loại thuốc được lựa chọn nhiều hơn của người Mỹ. Bốn trong số năm bị cáo trong các vụ án liên quan đến buôn bán cocaine là người da đen. Cả một thế hệ thanh niên da đen đã bị hình sự hóa và vĩnh viễn bị đẩy vào bóng tối của xã hội. Và trong số 799 người bị nhà nước xử tử kể từ khi hình phạt tử hình được giới thiệu lại vào năm 1976, 374 người trong số họ, tương đương 34%, là người da đen.

Sự chênh lệch tương tự có thể được nhìn thấy khi nói đến thu nhập và nhà ở. Vào năm 2005, những người da đen có việc làm chỉ kiếm được bằng 65% tiền lương của người da trắng trong các công việc tương đương, giảm từ 82% vào năm 1975. Và mặc dù thu nhập trung bình của đàn ông da đen đã vượt qua mức phụ nữ của bất kỳ chủng tộc nào và của đàn ông Tây Ban Nha, nó vẫn chỉ là 76 phần trăm mức độ của người đàn ông da trắng. Thu nhập trung bình của các gia đình Đen năm 1999 là 33.255 đô la so với 53.356 đô la cho các gia đình Trắng. Khi sự bùng nổ nhà ở bắt đầu vào năm 2001, dường như giấc mơ sở hữu nhà ở của người Mỹ cuối cùng đã trở thành hiện thực đối với hàng triệu người Mỹ có thu nhập thấp, bao gồm nhiều người da đen. Nhưng người da đen và các nhóm thiểu số khác hiện đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc khủng hoảng tín dụng và thế chấp dưới chuẩn, và có tới 2 triệu gia đình thu nhập thấp trở lên bị mất nhà cửa. Kết quả là Người da đen đang chịu tổn thất lớn nhất về tài sản trong lịch sử Hoa Kỳ hiện đại. Sự sụp đổ của nhà thế chấp này sẽ dẫn đến những người vay đen mất khoảng 72 tỷ đô la đến 93 tỷ đô la.

Bất chấp những cuộc đấu tranh anh hùng trong quá khứ, rõ ràng từ những điều trên cho thấy dù có được cải thiện hay không, đối với đại đa số người da đen sống ở Mỹ, mọi thứ vẫn như cũ hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn.

Chế độ nô lệ và khởi đầu của cuộc đấu tranh đen

Những người da đen châu Phi đầu tiên đã đến với vùng đất mà sau này trở thành Mười ba thuộc địa đầu tiên vào khoảng năm 1619, với tư cách như là những kẻ đầy tớ theo khế ước, mặc dù người Tây Ban Nha cũng mang nô lệ da đen cùng họ tới nơi mà sau này trở thành New Mexico và Arizona đầu năm 1539. Vào thời điểm đó, họ ở một vị trí tương tự như nhiều người Anh nghèo, đổi lấy việc sang Mỹ bằng cách bán trước nhiều năm lao động của mình. Lúc đầu, không có sự phân biệt nào giữa những kẻ đầy tớ theo khế ước dù gốc u hay Phi. Sự phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc như là một chuẩn mực xã hội đã không tồn tại cho đến khoảng những năm 1680, một phần là để đáp lại cuộc nổi loạn của Nathaniel Bacon vào năm 1676. Quan niệm về chủng tộc đơn giản không tồn tại trong thế giới cổ đại hoặc trung cổ; sự phân biệt chủng tộc là một sản phẩm của xã hội tư bản. Xuyên suốt lịch sử, chủ sở hữu nô lệ hoặc lãnh chúa phong kiến ​​coi thường nô lệ hoặc nông nô của mình như những kẻ thấp kém, nhưng điều này là do vị trí xã hội của họ, do mối quan hệ giai cấp giữa họ chứ không phải vì màu da của họ. Malcolm X từng nói: “Bạn không thể có chủ nghĩa tư bản mà không phân biệt chủng tộc.” Chúng tôi xin nói thêm rằng: “Bạn không thể có chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mà không có chủ nghĩa tư bản.”

Sự hình thành của một hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc quốc tế, hiện đại, trong đó định nghĩa màu trắng là “tốt” và không phải màu trắng là “xấu” chỉ có thể được truy tìm thông qua các tài liệu lịch sử liên quan đến sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ hiện đại (cụ thể hơn là sự chuyển từ chế độ khế ước nô lệ sang chế độ chiếm hữu nô lệ) và thời kỳ hình thành của chủ nghĩa tư bản. Nó phát triển vì những lý do rất vật chất trong suốt Thế kỷ 16 và 17. Người ta thậm chí có thể theo dõi việc sử dụng ngôn ngữ thay đổi trong các văn bản thư tín ở các thuộc địa, tức là sự phân biệt chủng tộc đã được xác định các thuộc địa của Mỹ đã không có trước sự hình thành các thuộc địa. Theo đó phân biệt chủng tộc có nghĩa là một hệ tư tưởng quốc tế về sự phân chia “chủng tộc” thành ưu việt và kém cỏi dựa trên màu da của một người. Sự phân biệt nhị nguyên này, một khi đã được phát triển, lây lan như một căn bệnh bắt từ nguồn từ Mỹ, đóng khung quan niệm về chủng tộc trên phạm vi quốc tế, từ Caribbean cho tới Nam Phi.

Địa lý và khí hậu của miền Nam Hoa Kỳ phù hợp cho sản xuất quy mô lớn một số loại cây trồng nhất định, nhưng chỉ khi có sẵn một nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, với rất nhiều đất giá rẻ có sẵn ở các vùng lãnh thổ phía tây, thật khó để giữ những người giúp việc được bảo hiểm làm việc sau khi hết thời hạn phục vụ và họ có thể tự do đi lại và tự lập. Do đó, một hệ thống lao động bắt buộc phải được áp đặt để tận dụng tiềm năng nông nghiệp của miền Nam. Với sự diệt chủng trên thực tế người Mỹ bản địa, các chủ đồn điền đã chuyển sang buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương từ châu Phi, nơi lao động nông nghiệp rất dồi dào và quen với sức nóng và độ ẩm của miền Nam. Nói cách khác, nô lệ được đưa đến Mỹ với một mục đích: để tạo ra khối lượng tài sản khổng lồ cho chủ sở hữu của họ.

Buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương, trước đây do người Ả Rập thống trị, nhanh chóng trở thành một hoạt động kinh doanh lớn và sinh lợi và giờ đây nằm ​​dưới sự kiểm soát của người châu u. Tổng cộng, ước tính khoảng 12 triệu người châu Phi da đen đã bị bắt từ quê nhà và được chuyển đến châu Mỹ suốt từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Trong số này, ước tính 645.000 (5,4 phần trăm) đã được đưa đến trong xiềng xích vùng đất mà ngày nay là Hoa Kỳ (một phần lớn là bị chuyển đến Brazil).

Năm 1790, ngay sau khi Hoa Kỳ thành lập, đã có khoảng 700.000 nô lệ da đen. Việc nhập khẩu nô lệ mới vào Mỹ đã bị cấm chính thức vào năm 1808, nhưng buôn lậu bất hợp pháp vẫn là một hoạt động kinh doanh có lãi trong nhiều thập kỷ tới và dân số nô lệ mọc lên như nấm, đặc biệt là sau khi phát minh ra cách tỉa hạt bông vào năm 1793. Đến năm 1840, dân số nô lệ đã tăng vọt lên gần 2,5 triệu, và vào năm 1860, vào đêm trước Nội chiến Hoa Kỳ, đã có gần bốn triệu nô lệ da đen trong tổng dân số chỉ hơn 12 triệu người ở 15 bang trong đó chế độ nô lệ là hợp pháp. 500.000 người da đen tự do khác sống trên khắp Hoa Kỳ.

Chế độ chiếm hữu nô lệ, trong đó nô lệ là tài sản thực sự của chủ sở hữu của họ, là một phương thức sản xuất không hiệu quả so với lao động tự do của chủ nghĩa tư bản, nơi người lao động có thể bán sức lao động của mình cho người trả giá cao nhất. Tuy nhiên, với chi phí thấp để duy trì và giữ nô lệ sống, chế độ nô lệ đã mang lại lợi nhuận khi được theo đuổi trên quy mô đủ lớn. Và với màu da khác với phần lớn dân số tự do, tầng lớp nô lệ mới có thể dễ dàng được xác định và giữ trong tù túng, tách biệt với phần còn lại của xã hội.

Nhưng trong một kỷ nguyên của tuyên bố Tự do, Bình đẳng và Tình huynh đệ giữa loài người, một loại biện minh nào đó đã được tìm thấy cho sự hồi sinh của chế độ nô lệ, một phương thức sản xuất và quan hệ xã hội đã chết ở châu u trước đó, và đương nhiên bị chửi rủa và khinh rẻ. Do đó, làn da đen, chứ không phải lao động nô lệ, đã bị biến thành dấu ấn của sự thấp kém trong xã hội. Do đó, khái niệm về cuộc đua thành công dựa trên màu da lần đầu tiên xuất hiện.

Những quần thể người khác nhau có màu da khác nhau là đủ rõ ràng. Tuy nhiên, khái niệm chủng tộc như một phạm trù sinh học đã bị khoa học di truyền hiện đại làm mất uy tín hoàn toàn. Con người hiện đại rất giống nhau ở cấp độ di truyền đến mức không thể xác định được chủng tộc của họ nếu chỉ dựa trên DNA của một người. Do đó, chủng tộc là một mối quan hệ xã hội được xây dựng dựa trên nhu cầu khai thác tư bản chủ nghĩa. Trong sinh học, nó đã không còn có liên quan. Nhưng trong xã hội, khái niệm chủng tộc vẫn tồn tại và được giai cấp thống trị sử dụng để chia rẽ và chinh phục nhân dân lao động.

Chế độ sở hữu nô lệ là một thành phần quan trọng trong quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy của giai cấp tư bản Hoa Kỳ. Khối tài sản khổng lồ được tạo ra bởi hàng triệu nô lệ làm giàu không chỉ cho các chủ đồn điền miền Nam, mà còn tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp trong ngành dệt may ở Anh, và sau đó ở miền Bắc Hoa Kỳ Như Karl Marx đã giải thích trong một lá thư gửi Pavel Annenkov:

“Chế độ nô lệ cũng là mấu chốt mà chủ nghĩa công nghiệp ngày nay của chúng ta biến thành máy móc, tín dụng, v.v ... Không có chế độ nô lệ thì sẽ không có bông, không có bông thì sẽ không có ngành công nghiệp hiện đại. Chính chế độ nô lệ đã mang lại giá trị cho các thuộc địa, chính các thuộc địa đã tạo ra thương mại thế giới và thương mại thế giới là điều kiện cần thiết cho ngành công nghiệp máy móc quy mô lớn. Do đó, trước khi buôn bán nô lệ, các thuộc địa đã gửi rất ít sản phẩm đến Thế giới cũ và không thay đổi đáng kể bộ mặt của thế giới. Do đó chế độ nô lệ là một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng tối cao. Không có chế độ nô lệ, Bắc Mỹ, quốc gia tiến bộ nhất hẳn sẽ biến thành một quốc gia gia trưởng. Chỉ cần xóa Bắc Mỹ khỏi bản đồ và bạn sẽ có tình trạng hỗn loạn, sự suy đồi hoàn toàn của thương mại và nền văn minh hiện đại. Nhưng để loại bỏ chế độ nô lệ sẽ phải quét sạch nước Mỹ khỏi bản đồ. Là một phạm trù kinh tế, chế độ nô lệ đã tồn tại ở tất cả các quốc gia kể từ khi bắt đầu thế giới. Tất cả những gì các quốc gia hiện đại đã đạt được là ngụy trang chế độ nô lệ tại nhà và nhập khẩu công khai vào Thế giới mới.”

Áp đặt hệ thống này và bảo vệ nó đòi hỏi luật pháp ngày càng khắc nghiệt và bạo lực vô nhân đạo thay cho sự sở hữu nô lệ. Nhưng không có nghĩa là những người nô lệ, di dời và cắt đứt mọi mối quan hệ với vùng đất, gia đình và văn hóa trước đây của họ, bị đánh đập, tra tấn, làm nhục và đối xử như động vật hoặc tệ hơn, chấp nhận điều này mà không cần chiến đấu.

Nô lệ nổi dậy

Thật vậy, trong hàng trăm năm với những cuộc nổi dậy nô lệ và các hình thức kháng cự khác bao gồm trốn chạy đến Bắc Mỹ, Canada hoặc Florida của Tây Ban Nha đã khắc họa nên cuộc đấu tranh của người da đen ở Hoa Kỳ. Đã có khoảng 250 cuộc nổi loạn hoặc khởi nghĩa nô lệ bao gồm từ mười nô lệ trở lên được ghi nhận. Ngay từ năm 1663, cuộc nổi dậy lớn đầu tiên đã diễn ra ở Gloucester, Virginia.

Những cuộc nổi loạn và hậu quả của chúng đã dẫn đến sự tàn nhẫn ngày càng gia tăng nhân danh chủ sở hữu nô lệ. Một bước ngoặt như vậy trong việc thể chế hóa hệ thống là Cuộc nổi loạn Stono năm 1739 (còn được gọi là Cuộc nổi loạn của Cato) ở Nam Carolina. Nó đã được các nô lệ ấn định diễn ra trước khi Đạo luật An ninh năm 1739, đòi hỏi mọi đàn ông da trắng được mang vũ khí vào ngày Chủ nhật, có hiệu lực. Xuyên suốt cuộc nổi loạn là đòi hỏi về “Tự do”, bảy đồn điền đã bị đốt cháy và hơn 20 người da trắng đã bị giết cùng với 44 nô lệ. Sau khi bị dập tắt bởi dân quân tư nhân do các chủ sở hữu nô lệ và đồn điền tuyển mộ, những nô lệ còn sống sót đã bị chặt đầu và đầu của họ bị cắm vào cọc nhọn dọc theo cột mốc ranh giới giữa Nam Carolina và Charleston. Cuộc nổi dậy của Stono đã dẫn đến một lệnh cấm 10 năm đối với việc nhập khẩu nô lệ qua Charleston và sự ban hành một bộ luật nô lệ khắc nghiệt hơn, cấm trả tiền và giáo dục cho nô lệ.

Nhưng có lẽ cuộc nổi dậy nô lệ quan trọng nhất về mặt tác động của nó đối với ý thức cộng đồng là cuộc nổi dậy của Nat Turner vào tháng 8 năm 1831 tại Quận Southampton, Virginia. Bắt đầu chỉ với một số ít bạn bè đáng tin cậy, Turner đã tập hợp hơn 50 nô lệ và người da đen tự do trong cuộc nổi loạn 48 giờ, giết chết khoảng 57 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em da trắng. Mặc dù cuộc nổi dậy đã bị đàn áp nhanh chóng, Nat không bị bắt cho đến cuối tháng Mười. Sau đó, anh đã bị hành hình, treo cổ, lột da và phanh thây. 55 người da đen khác đã bị xử tử vì nghi ngờ có liên quan đến cuộc nổi loạn và 200 người khác không liên quan gì đến cuộc nổi dậy đã bị đánh đập, tra tấn và giết hại bởi đám đông da trắng giận dữ.

Những sự kiện này đã phân cực mạnh mẽ miền Nam, thúc đẩy xu hướng đàn áp lớn hơn và đảo ngược sự phát triển khiêm tốn của những cảm tình với chủ trương bãi nô trong chính Virginia. Nỗi sợ hãi về sự lặp lại của cuộc nổi dậy Turner đã dẫn đến các chính sách đàn áp thậm chí còn khắc nghiệt hơn đối với người da đen cả nô lệ và tự do, những người mà quyền tự do bị cắt bỏ một cách nghiêm trọng. Việc đặt câu hỏi đối với hệ thống nô lệ bị cấm với lý do bất kỳ cuộc thảo luận nào như vậy có thể khuyến khích các cuộc nổi dậy nô lệ.

Những người theo chủ nghĩa bãi nô

Ngoài các cuộc nổi dậy vũ trang của chính nô lệ, phong trào bãi nô cũng tiến hành một cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lệ. Được tạo thành chủ yếu từ người da đen và người da trắng tự do chống lại chế độ nô lệ vì nhiều lý do tôn giáo, kinh tế và chính trị, một số người đã đòi hỏi xóa bỏ chế độ nô lệ ngay lập tức và vô điều kiện, trong khi những người khác ủng hộ quá trình giải phóng dần dần. Một số người chống lại chế độ nô lệ trên cơ sở đạo đức, nhưng vẫn tin rằng người da đen kém cỏi hơn và nên được gửi trở lại châu Phi thay vì được giải phóng. Những người khác là vì sự bình đẳng chủng tộc hoàn toàn, và những người khác vẫn lo sợ dân số Đen ngày càng tăng, tin vào “sự thuần khiết về chủng tộc và đạo đức” của Dân Da trắng và ủng hộ việc tái định cư người Da Đen ở nơi khác. Ý tưởng tái định cư được hỗ trợ bởi nhiều cá nhân và tổ chức vì nhiều lý do. Năm 1821-22, Hiệp hội Thực dân Hoa Kỳ đã thành lập thuộc địa Liberia ở Tây Phi, và trong bốn thập kỷ tiếp theo, đã giúp hàng ngàn cựu nô lệ và người da đen tự do di chuyển từ Hoa Kỳ đến đó.

Một số người theo chủ nghĩa bãi nô ở miền Nam chỉ đơn giản nhận ra rằng chế độ nô lệ không còn sinh lãi như trước đây và đã đạt đến giới hạn địa lý; tiếp tục mở rộng hệ thống về phía tây đơn giản là không khả thi. Nhiều chính trị gia miền Bắc phẫn nộ trước sự thống trị về chính trị của đất nước bởi miền Nam, và hiểu rằng chấm dứt hệ thống nô lệ sẽ phá vỡ sự bóp nghẹt chính trị đó. Những người khác trong giai cấp tư sản phương Bắc non trẻ chỉ đơn giản là muốn chấm dứt chế độ nô lệ để giải phóng thêm hàng triệu công nhân cho sản xuất tư bản chủ nghĩa. Một số công nhân miền Bắc lo ngại dòng người nô lệ được giải phóng sẽ được sử dụng để giảm tiền lương và điều kiện sống, trong khi những người khác hiểu rằng, như Karl Marx giải thích, “Lao động không thể tự giải phóng mình trong làn da trắng khi mà ở đó người da đen còn bị đóng dấu sắt nung.”

Phong trào bãi nô đã bắt đầu ngay cả trước khi Hoa Kỳ chính thức thành lập. Bài báo ủng hộ đầu tiên được xuất bản ở Mỹ được viết bởi không ai khác ngoài Thomas Paine, và xuất hiện vào ngày 8 tháng 3 năm 1775. Tổ chức bãi nô chính thức đầu tiên ở Hoa Kỳ là “Hiệp hội Cứu trợ của những người tự do cho người da đen bị giam giữ bất hợp pháp trong Bondage”, Thành lập vào tháng Tư năm 1775 tại Philadelphia, chủ yếu bởi những người thuộc Hội giáo hữu Kitô, những người nhiệt thành chống lại chế độ nô lệ trên cơ sở tôn giáo. Sau một thời gian gián đoạn ngắn trong Cách mạng Hoa Kỳ (trong thời gian đó, nhiều người da đen đã chiến đấu về phía những người thuộc địa giành tự do chống lại đế chế Anh), nó đã phục hồi lại hoạt động vào năm 1784, với Benjamin Franklin như là chủ tịch đầu tiên.

Những người theo chủ nghĩa bãi nô Tin Lành như William Lloyd Garrison và John Brown cũng nhiệt thành về Tuyên ngôn Độc lập như họ nói về Kinh thánh. Năm 1854, Garrison đã viết:

“Tôi là một người tin vào phần đã được nêu ra trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, coi đó như sự thật hiển nhiên, rằng 'tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; rằng họ đã được Đấng Tạo Hóa ban cho một số quyền bất khả xâm phạm; rằng trong số đó là được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.' Do đó, tôi là một người theo chủ nghĩa bãi nô. Do đó, tôi không thể không lưu tâm tới sự áp bức dưới mọi hình thức - và hơn hết, điều đó biến một người đàn ông thành một đồ vật - với sự phẫn nộ và ghê tởm. . . Hãy thuyết phục tôi rằng một người này có thể biến một người khác thành nô lệ của mình một cách chính đáng, và tôi sẽ không còn tán thành Tuyên ngôn Độc lập. Hãy thuyết phục tôi rằng tự do không phải là quyền bất khả xâm phạm ngay từ lúc sinh ra của mỗi con người, dù có bất kỳ mặc cảm hay bí mật nào, và tôi sẽ ném văn kiện vào ngọn lửa. Tôi không hề biết có cách nào để kết hợp được tự do và nô lệ với nhau.”

Những người theo chủ nghĩa bãi nô khác, những người đã được trả tự do hoặc thoát khỏi cảnh nô lệ trước đây như Frederick Douglass hay Harriet Tubman, những người đã chiến đấu không mệt mỏi để giải phóng anh chị em của họ vẫn còn trong xiềng xích. Douglas có lẽ đã trở thành người bãi nô nổi tiếng nhất trong tất cả, một diễn giả có thể truyền cảm hứng và lòng nhiệt thành, trong đó các bài báo và bài phát biểu hùng hồn của ông có thể được coi là sự lên án sôi nổi nhất đối với hệ thống nô lệ. Ông tin rằng Hoa Kỳ là quê hương chính đáng của người da đen sống ở đây, ngay cả khi ban đầu họ đã được đưa đến đây bằng vũ lực. Như ông nói: "Tất cả những cuộc nói chuyện về quê hương này là vô nghĩa. Quê hương của người da đen châu Mỹ là nước Mỹ." Ông cũng lập luận rằng Hiến pháp là một tài liệu chống lại chế độ nô lệ, và cho rằng Nội chiến là một cuộc chiến để chấm dứt chế độ nô lệ, không chỉ đơn thuần là để bảo vệ Liên minh. Cuối cùng, ông tin rằng người da đen nên được phép cầm vũ khí và đấu tranh cho tự do của tất cả nô lệ. Mạng lưới ngầm, nổi tiếng bởi Tubman, người đã giúp giải thoát hơn 300 người, là một mạng lưới không chính thức gồm những ngôi nhà an toàn và các tuyến đường bí mật để giúp nô lệ trốn thoát khỏi miền Bắc, đến Mexico hoặc nước ngoài.

Nhưng chính nỗ lực thất bại của John Brown đã châm ngòi cho một cuộc tổng nổi dậy của nô lệ với cuộc đột kích vào kho vũ khí liên bang tại Harpers' Ferry năm 1859 đã gây ra cuộc chiến về nô lệ, điều không thể tránh khỏi. Anh đã đối mặt với số phận của mình bằng những lời sau:

"Bây giờ, nếu là cần thiết khi tôi phải từ bỏ cuộc sống của mình, để đi tới cùng công lý, và hòa máu của tôi với máu của các con tôi, với máu của hàng triệu người trên đất nước nô lệ này, những người bị coi thường bởi những điều luật độc ác, tàn nhẫn và bất công - tôi nói hãy để nó được thi hành."

Vào ngày bị xử tử, ông đã viết:

"Tôi, John Brown, giờ đây tôi khá chắc chắn rằng tội ác của vùng đất tội lỗi này sẽ không bao giờ được làm sạch mà không đánh đổi bằng máu. Tôi, trong tâm trí ngay lúc này, thấy mình đã thật hão huyền khi tin một cách vô vọng rằng máu sẽ không cần phải đổ nhiều."

Miền Nam bắt đầu tự vũ trang một cách sốt sắng, và với thắng cử của Tổng thống Lincoln từ Đảng Cộng hòa chống nô lệ vào năm 1860, việc ly khai của các tiểu bang nô lệ, bắt đầu từ Nam Carolina, là một điều không thể tránh khỏi. Và cùng với sự ly khai đó là chiến tranh.

Nội chiến

Trong những thập kỷ theo sau sự thành lập Hoa Kỳ, những căng thẳng về chính trị, kinh tế và xã hội đã dẫn tới một cuộc Nội chiến không thể tránh khỏi. Nhiều thỏa hiệp khác nhau đã được đưa ra trong nỗ lực duy trì sự cân bằng chính trị giữa miền Bắc và miền Nam, nhưng cho đến cùng sự đối lập cơ bản về lợi ích giữa hai bên đã không thể không giải quyết bằng vũ lực.

Trong khi những người chiến đấu trong cuộc chiến này có thể là vì theo hoặc chống lại việc duy trì liên bang, vì theo hoặc chống lại sự giải phóng nô lệ, hay vì theo hoặc chống lại thẩm quyền liên bang so với quyền của các bang, thì rốt cuộc nội chiến Hoa Kỳ vẫn là cuộc chiến giữa miền Bắc của chủ nghĩa tư bản đang lên và miền Nam nơi chế độ nô lệ đang suy tàn. Bằng cách cho phép chế độ nô lệ tiếp tục sau Chiến tranh Cách mạng giải phóng Hoa Kỳ khỏi Đế quốc Anh, một cuộc đối đầu như vậy cuối cùng là không thể tránh khỏi. Không thể duy trì cùng lúc sự tồn tại lâu dài giữa hai hệ thống kinh tế xã hội hoàn toàn trái ngược nhau . Như Abraham Lincoln đã giải thích trong một bài phát biểu nổi tiếng:

“Ngôi nhà bị chia rẽ không thể đứng vững... Tôi tin rằng chính phủ này không thể chấp nhận được, vĩnh viễn một nửa là nô lệ và một nửa là tự do. Tôi không hy vọng Liên bang sẽ bị giải thể - Tôi không hy vọng ngôi nhà sẽ sụp đổ - nhưng tôi hy vọng nó sẽ không còn bị chia cắt. Nó sẽ trở thành hoặc là trọn vẹn thứ này hoặc trọn vẹn thứ khác.”

Một giải pháp mang tính cách mạng cho mâu thuẫn giữa một hệ thống dựa trên lao động nô lệ và một hệ thống dựa trên lao động tự do là cần thiết. Bất chấp sự đẫm máu, sự tàn phá và đau khổ mà nó gây ra, đây là một cuộc chiến tiến bộ - “Cuộc cách mạng thứ hai của nước Mỹ” - đã phá hủy hệ thống nô lệ và “dọn sạch sàn tàu” vì sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Chủ nghĩa tư bản luôn là một hệ thống bóc lột và áp bức. Như Karl Marx đã giải thích trong Tư bản: “Từ Việc phát hiện ra vàng và bạc ở châu Mỹ, sự diệt chủng, nô lệ và giam cầm những người thổ dân trong các hầm mỏ, khởi đầu cuộc chinh phạt và cướp bóc Đông Ấn, tới biến châu Phi thành một vùng đất rộng lớn cho việc săn lùng buôn bán người da đen, đã báo hiệu bình minh màu hồng cho kỷ nguyên sản xuất tư bản ... Nếu tiền ... đến với thế giới với vết máu bẩm sinh trên một bên má, Tư bản chảy ra từ đầu đến chân, từ mỗi lỗ chân lông, với máu và sự dơ bẩn.”

Nhưng vào cuối thế kỷ 19, nó vẫn còn vai trò tiến bộ lịch sử trong việc phát triển lực lượng sản xuất và củng cố giai cấp công nhân, từ đó đặt nền móng vật chất cho sự chuyển đổi xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng của miền Bắc là tất yếu, mặc dù chiến đấu cho Liên bang là những vị tướng bất tài. Chỉ riêng nền kinh tế của tiểu bang New York đã lớn gấp bốn lần so với toàn bộ miền Nam. Điều này cho tới cùng, đã xác định kết quả cuối cùng của cuộc chiến. Karl Marx là một người ủng hộ nhiệt thành cho cuộc chiến và thậm chí đã viết thư cho Lincoln, chúc mừng ông tái đắc cử năm 1864, thúc giục ông tiếp tục cuộc chiến mạnh mẽ hơn nữa với tiếng thét: Cái chết cho chế độ nô lệ!

Hàng trăm ngàn người da đen ở cả 2 miền Bắc và Nam đã tham gia và đóng một vai trò quan trọng trong kết cục cuối cùng của cuộc chiến lâu dài và đẫm máu này. Ở miền Nam, nô lệ bị buộc phải xây dựng pháo đài, đào hào, pháo binh và tiếp tế, thiết lập quân đội, nấu ăn và làm người hầu cho các sĩ quan và binh sĩ của Liên minh. Một số người da đen tự do thậm chí đã chiến đấu cho Liên minh. Nhưng khi những người da đen ở miền Nam ngày càng nhận ra rằng một chiến thắng của Liên bang có ý nghĩa như thế nào đối với họ đã có tới 500.000 người đào thoát tới miền Bắc, nhiều người trong số họ cuối cùng đã chiến đấu trong quân đội Liên bang. Những người khác rời đến các tuyến phía Bắc làm trinh sát, người đưa tin và gián điệp. Kỷ luật đối với các đồn điền đã nhanh chóng bị phá vỡ khi chiến tranh bắt đầu chống lại miền Nam. Đáp lại, những người chủ nô đã áp đặt những hạn chế nghiêm trọng đối với nô lệ của họ, thậm chí di chuyển toàn bộ đồn điền càng xa càng tốt khỏi sự tiếp xúc với các lực lượng miền Bắc. Hình phạt cho những người da đen bị bắt trong đồng phục Liên bang và cho các sĩ quan da trắng chỉ huy họ là tử hình.

Ở miền Bắc, những người da đen tự do đã cố gắng gia nhập Quân đội Liên bang ngay từ đầu cuộc chiến. Họ không chỉ muốn chiến đấu để giải phóng các anh chị em của mình ở miền Nam, mà còn hiểu rằng các quyền tự do của họ ở miền Bắc chỉ có thể được đảm bảo và mở rộng nếu Liên bang giành chiến thắng. Một số lượng lớn người tự do và nô lệ trước đây đã được sử dụng làm lao động, nhưng do nỗi sợ phân biệt chủng tộc khi vũ trang cho số lượng lớn người da đen, họ không được phép thực sự chiến đấu cho đến cuối năm 1862.

Trung đoàn 54 Massachusetts là đơn vị toàn người da đen đầu tiên trong Quân đội Liên bang. Trong vòng hai tháng, hơn 1.000 người đàn ông da đen từ khắp miền Bắc đã tình nguyện, và được dẫn dắt bởi Đại tá Robert Gould Shaw, con trai của một người theo chủ nghĩa bãi nô nổi tiếng ở Boston. Đơn vị 54 đã bị tàn sát và Shaw hi sinh trong cuộc tấn công anh hùng của họ vào Pháo đài Wagner nhưng tấm gương của họ đã mở đường cho hàng ngàn binh sĩ da đen khác tham gia chiến đấu trong cuộc chiến. Đến cuối cuộc chiến, khoảng 220.000 người tự do đã gia nhập Quân đội Liên bang và 40.000 người đã chết.

Vì sợ châm ngòi cho sự ly khai của các bang vùng biên sở hữu nô lệ còn do dự, Lincoln đã không ngay lập tức giải phóng nô lệ. Nhưng sau chiến thắng của miền Bắc tại Antietam, ông đã đưa ra một tuyên bố sơ bộ tuyên bố rằng nếu các bang Liên minh không gia nhập Liên bang trước ngày 1 tháng 1 năm 1863, ông sẽ tuyên bố nô lệ của họ “được giải phóng mãi mãi”. Chế độ nô lệ đã không tuân theo và Tuyên ngôn giải phóng có hiệu lực. Tuy nhiên, vì tuyên bố chỉ ảnh hưởng đến các bang nổi loạn chống lại Liên bang, nên ban đầu nó không thực sự giải phóng bất kỳ nô lệ nào. Chính quân đội Liên bang đã thi hành tuyên bố khi họ tiến vào miền Nam, với Texas là bang cuối cùng được giải phóng vào năm 1865. Mãi đến lần sửa đổi thứ 13, được ban hành vào ngày 18 tháng 12 năm 1865, tất cả những người trong cảnh nô lệ mới chính thức giải phóng. Giải phóng nô lệ - những người không được coi là con người mà là một dạng tài sản - là một trong những sự tước đoạt sở hữu tư nhân lớn nhất trong lịch sử thế giới.

Sự tái thiết

Sự đầu hàng của Robert E. Lee tại trụ sở Tòa án Appomattox vào ngày 9 tháng 4 năm 1865 đánh dấu sự kết thúc của cuộc Nội chiến. Chưa đầy một tuần sau, Abraham Lincoln bị ám sát. Giờ đây câu hỏi mà miền Bắc chiến thắng phải đối diện là làm thế nào để xây dựng lại cơ sở hạ tầng bị hủy hoại của miền Nam và kết hợp lại nó vào Liên bang khi không có chế độ nô lệ làm cơ sở kinh tế. Mục đích kinh tế và chính trị của miền Bắc là áp đặt quan hệ tài sản tư bản và thống trị chính trị đối với miền Nam. Để làm điều này, họ đã khởi động một chương trình gọi là Tái thiết, được tiếp nhận một cách hăng hái bởi những nô lệ được giải phóng và những người da trắng nghèo khổ trên khắp miền Nam. Đó là mục tiêu của Tái thiết mà nhiều người gọi nó như là “Cuộc nội chiến lần thứ hai”.

Giai đoạn đầu tiên của thời kỳ này được gọi là Tái thiết “Tổng thống” hay “Ôn hòa”, và được khởi xướng bởi các tổng thống Cộng hòa như Lincoln và người kế nhiệm, Andrew Johnson. Nó kéo dài gần như từ Tuyên ngôn giải phóng năm 1863 đến 1866. Mục tiêu của họ là nhanh chóng thống nhất đất nước, và họ đề xuất các điều kiện rất lỏng lẻo cho việc tái gia nhập của các bang thuộc Liên minh trước đây vào Liên bang. Điều này đã bị phe cánh cấp tiến của Đảng Cộng hòa phản đối, những người coi việc ly khai là đã đặt các bang đó vào tình trạng tương tự như các vùng lãnh thổ mới bị chinh phục.

Vào tháng 3 năm 1865, Lincoln và Quốc hội đã thành lập “Cục người tị nạn, người tự do và đất bị bỏ hoang”. Còn được biết đến với cái tên “Cục cho người tự do”, mục đích của nó là giúp đỡ những người nô lệ trước đây - những người hiện không có việc làm, nhà cửa hay đất đai - trong nỗ lực hòa nhập với xã hội. Nó bao gồm các chương trình để cung cấp giáo dục, chăm sóc sức khỏe và tìm kiếm việc làm. Công việc của Cục cho người tự do đã đạt được những mức độ thành công khác nhau và phải đối mặt với sự phá hoại công khai của những người chủ nô lệ trước đây, những người đã nỗ lực hết sức để khai thác những nô lệ cũ một cách tàn nhẫn như họ đã làm trước đây.

Trước đó vào năm 1865, Đại tướng Liên bang William T. Sherman đã ban hành “Mệnh lệnh đặc biệt số 15”, một sắc lệnh chia đất bị bỏ hoang bởi các chủ đồn điền cho các nô lệ cũ. Điều này thường được gọi là Bốn mươi mẫu đất và một con la, và tượng trưng cho sự đền bù mà chính phủ liên bang phải trả cho những người nô lệ trước đây để giúp họ vực dậy. Trong vài tháng, 10.000 nô lệ được giải phóng đã được định cư trên 400.000 mẫu đất ở Georgia và Nam Carolina. Nhưng mệnh lệnh này đã bị đảo ngược bởi Tổng thống Johnson, và sự thụt lùi sớm này đối với những nỗ lực Tái thiết triệt để hơn đã đặt ra một giai điệu đáng ngại cho tương lai.

Trong khi chế độ nô lệ xưa đã phải chấp nhận sự kết thúc của hệ thống nô lệ, họ sẽ không chấp nhận sự bình đẳng giữa các chủng tộc. Một gợi mở cho những gì sẽ xảy ra về sau đó dưới hình thức của “Jim Crow”, đó là các “Mã Đen”, được ban hành ở mọi tiểu bang miền Nam ngay sau chiến tranh. Những đạo luật này đã hạn chế nghiêm ngặt các quyền, cơ hội việc làm và khả năng di chuyển của những người nô lệ trước đây, hay những “người tự do”, người đã được giải phóng, nhưng chưa phải là công dân Hoa Kỳ. Mã đen là nỗ lực đầu tiên của miền Nam nhằm thể chế hóa sự phân biệt chủng tộc giữa những người đàn ông và phụ nữ tự do. Các bộ luật này đã bị đảo ngược bởi Đạo luật Dân quyền năm 1866, cho phép những người tự do hoàn toàn bình đẳng về pháp lý (trừ quyền bầu cử). Nhưng chúng nhanh chóng được thay thế bằng một bộ luật phân biệt đối xử không chính thức, và sẽ được giới thiệu lại dưới dạng luật “Jim Crow”, sau sự sụp đổ của Tái thiết.

Về phần mình, Tổng thống Johnson ngày càng liên kết với Đảng Dân chủ bảo thủ hơn, vốn thống trị miền Nam và phản đối việc mở rộng bình đẳng cho người da đen. Họ phản đối Dự thảo Tu chính án thứ 14 (cuối cùng được thông qua vào năm 1868), điều này sẽ yêu cầu các bang cung cấp sự bảo vệ bình đẳng theo luật cho tất cả mọi người trong phạm vi quyền hạn của họ. Đây là một nỗ lực để bảo đảm quyền của những người nô lệ trước đây, ít nhất là trên giấy tờ. Johnson tuyên bố quyền lực chiến tranh quyết định làm thế nào để tiến hành tái hòa nhập miền Nam, nhưng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1866, đảng Cộng hòa cấp tiến đã giành được quyền kiểm soát Quốc hội và bắt đầu thực hiện giai đoạn Tái thiết “cấp tiến”, hay “Quốc hội”, kéo dài cho đến khoảng năm 1873. Sau cuộc tranh luận đáng kể, ngay cả giữa những người Cộng hòa cấp tiến, quyền công dân đầy đủ cũng như quyền dân sự và quyền bầu cử được mở rộng cho tất cả các nô lệ trước đây, trong khi quyền bầu cử tạm thời bị lấy đi từ khoảng 10.000 hoặc 15.000 người đàn ông da trắng từng là quan chức Liên minh hoặc sĩ quan cao cấp.

Giáo dục công cộng (mặc dù tách biệt) và các chiến dịch xóa mù chữ đã được thực hiện, thường là kết quả của những nỗ lực căn bản của những người nô lệ trước đây, và miền Nam được hiện đại hóa thông qua việc mở rộng các tuyến đường sắt. Đảng Cộng hòa cấp tiến tập trung vào việc mang lại sự hội nhập chủng tộc lớn hơn về các thể chế chính trị và xã hội cho miền Nam nói chung, và trong một số năm, những tiến bộ to lớn đã được thực hiện theo hướng này. Được hỗ trợ bởi luật quân sự ở miền Nam được thực thi bởi quân đội liên bang bao gồm các binh sĩ da đen, một làn sóng thay đổi chính trị quét qua miền Nam trong cuộc bầu cử năm 1868. Tu chính án thứ 15 đã được thông qua vào năm 1870, trong đó quyền biểu quyết là không thể chối từ do chủng tộc, màu da hoặc tình trạng nô lệ trước đây. Trong quá trình Tái thiết, khoảng 1.500 người Mỹ da đen đã nắm giữ các văn phòng công cộng ở miền Nam. Người da trắng nghèo cũng kiếm được lợi ích kinh tế và chính trị trong giai đoạn này.

Thất bại của Tái thiết

Nhưng Tái thiết cấp tiến không kéo dài được lâu, vì quyền lực kinh tế và chính trị vẫn chủ yếu nằm trong tay các chủ sở hữu nô lệ trước đây. Người tự do đã buộc các chủ đồn điền phải mặc cả cho lao động của họ, dẫn đến hệ thống lĩnh canh, mà ít nhất là trên giấy tờ đã cho những người nô lệ trước đây sự độc lập hơn về kinh tế. Tuy nhiên, các phương tiện sản xuất (đất đai, công cụ, động vật cho sức kéo) vẫn thuộc sở hữu của các chủ đồn điền lớn và không có khả năng vươn lên bằng cách sản xuất các loại cây trồng như bông, vốn dễ bị biến động trên thị trường thế giới, nhiều người lĩnh canh sớm rơi vào nợ nần vĩnh viễn và trên thực tế bị giáng xuống hiện trạng như nô lệ. Một số người tự do thậm chí còn bị đem ra bán đấu giá để làm người hầu khi họ không thể trả nợ.

Ngay cả trong giai đoạn Tái thiết triệt để nhất, các lực lượng phản cách mạng đã sẵn sàng chống lại mọi nỗ lực để có sự hội nhập lớn hơn về chủng tộc. Chúng đã mở ra một làn sóng khủng bố chống lại các công nhân da đen, những người lĩnh canh, nhân viên chính phủ liên bang và Liên đoàn vũ trang do đảng Cộng hòa tổ chức. Mục tiêu cũng được nhắm tới là những người được gọi là “carpetbaggers” (những kẻ mang túi hay gói thảm): Những người miền Bắc đến miền Nam sau chiến tranh và đóng vai trò lớn trong việc thực hiện các chính sách Tái thiết; và “scalawags”: những người da trắng miền Nam đồng cảm và đã gia nhập Đảng Cộng hòa. Ku Klux Klan (KKK), được thành lập vào năm 1866 bởi các cựu binh của Quân đội Liên minh, đã đe dọa về thể xác, đánh đập, tra tấn và giết hại hàng ngàn người da Đen và những đồng minh da Trắng của họ. Mặc dù quân đội liên bang đôi khi cũng công khai trấn áp bạo lực chống lại người Da đen, đôi khi họ phớt lờ và cho phép nó tiếp tục. Triều đại khủng bố về chính trị, kinh tế và thể xác mà sau này sẽ tự xác lập dưới thời Jim Crow đã bắt đầu từ đây.

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 tấn công miền Nam đặc biệt nghiêm trọng, làm phá sản nhiều người miền Bắc, những người đã đầu tư vào đường sắt. Giá bông giảm một nửa, và nhiều tiểu thương và địa chủ đã bị phá sản. Đảng Cộng hòa ngày càng bị chia rẽ và mất đi ảnh hưởng sau Nội chiến. Trong cái gọi là “Sự cứu chuộc”, thời kỳ kéo dài từ năm 1873 đến 1877, tiến trình cách mạng mà Công cuộc Tái thiết đã đạt được trong việc cải thiện tình trạng kinh tế, chính trị và xã hội của những người nô lệ và người da trắng nghèo khổ sắp tới hồi kết thúc. Đến năm 1877, khi Tổng thống Rutherford B.Hayes rút lực lượng còn lại của quân đội liên bang khỏi miền Nam, tất cả các chính quyền bang của đảng Cộng hòa đã sụp đổ hoặc mất phiếu. Các nhà tư bản phương Bắc đã đạt được những gì họ muốn: thoát khỏi hệ thống nô lệ và áp đặt quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa. Bây giờ họ có thể gạt bỏ các lực lượng xã hội mà họ đã dựa vào để đạt được mục tiêu của mình. Như Thomas Hall, một cựu nô lệ được phỏng vấn vào những năm 1930 đã nói: “Những người Mỹ đã giúp giải phóng chúng tôi, như họ đã hứa hẹn, nhưng chính họ lại đưa chúng tôi trở lại làm nô lệ một lần nữa.”

Chế độ nô lệ đã bị lật đổ, nhưng nhu cầu về lao động nông nghiệp trên quy mô lớn, giá rẻ vẫn còn. Để buộc hàng triệu người nô lệ cũ được “giải phóng” trên hình thức trở lại các đồn điền, họ phải thiết lập lại các mối quan hệ xã hội của hệ thống nô lệ cũ trong một hình thức mới. Để đạt được điều này, họ đã điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của hệ thống nô lệ đã lỗi thời và bị đánh bại - phân biệt chủng tộc, định kiến ​​và kỳ thị - theo nhu cầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các luật lệ mơ hồ cũ và Mã đen đã bị loại bỏ, được mở rộng và trở lại trong hình thức mới. Hàng trăm ngàn người da đen đã bị bắt và bị kết án vì những vi phạm nhỏ nhất, bị đưa vào hoạt động trong các tốp lớn để xây dựng đường sắt. Giờ đây cuộc sống bị đóng dấu là kẻ có tiền án, họ gần như không thể tìm được việc làm, nhà ở đàng hoàng, hoặc nhận được một nền giáo dục.

Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vốn là một công cụ cần thiết cho hệ thống khai thác nô lệ miền Nam, đã trở thành một công cụ đặc biệt và cần thiết cho sự bóc lột tư bản ở Mỹ, không chỉ ở miền Nam, mà trên toàn bộ đất nước mới được thống nhất.

Trái đắng của thất bại

Từ năm 1877 đến khoảng năm 1900, “Sự cứu chuộc” từng bước chậm rãi nhưng chắc chắn đã đảo ngược vòng quay đồng hồ của sự Tái thiết. Họ làm cho người da đen ngày càng khó được bầu cử hoặc thậm chí là bỏ phiếu, một chính sách tước quyền được thể chế hóa vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Một số trường hợp quan trọng mà Tòa Tối cao đã đảo ngược luật dân quyền trong thời kỳ hậu Nội chiến, ví dụ, vụ án khét tiếng của Plessy vs Ferguson năm 1986, trong đó khẳng định rằng sự phân biệt đối xử là hợp pháp miễn là có các điều khoản dành cho các cơ sở “riêng rẽ nhưng công bằng”. Nó sẽ không bị lật ngược cho đến trường hợp của Brown vs Hội đồng giáo dục Topeka vào năm 1954.

Dưới thời Jim Crow, Người da đen không thể học cùng trường với Người da trắng; họ không thể ăn trong cùng một nhà hàng, đi trên cùng một toa tàu, sống trong cùng một khu phố hoặc mua sắm trong cùng một cửa hàng. Họ cũng không thể phục vụ trong các hội thẩm, điều đó có nghĩa là họ có rất ít cơ hội nếu có bất kỳ sự truy đòi pháp lý nào. Người da trắng có thể đánh bại, cướp hoặc thậm chí giết chết người da đen theo ý muốn vì những vi phạm nhỏ và thông thường. Sự thống trị của khủng bố được gợi mở trong “Mã đen” và sự trỗi dậy của KKK, đã được thiết lập vững chắc dưới thời Jim Crow với sự hồi sinh trên diện rộng của các dân quân ủng hộ sự ưu việt của người da Trắng, thực thi sự phân biệt chủng tộc với những hành động tàn bạo nhất. Người ta ước tính rằng từ năm 1889 đến 1922, khoảng 3.500 người, hầu hết là những người đàn ông da đen, đã bị sát hại trong bạo lực vì động cơ chủng tộc. Như Thượng nghị sĩ Nam Carolina Ben Tillman tuyên bố vào năm 1900: “Chúng tôi đã làm hết sức mình [để ngăn người da đen bỏ phiếu] ... chúng tôi đã gãi đầu để tìm ra cách chúng tôi có thể loại bỏ đến người cuối cùng trong số họ. Chúng tôi gian lận với các thùng phiếu. Chúng tôi bắn họ. Chúng tôi không thấy hổ thẹn về điều đó.”

Sau thất bại lịch sử của Tái thiết, sau một thời gian tuyệt vọng và bị cô lập khỏi cuộc đấu tranh giai cấp rộng lớn hơn ở Hoa Kỳ, điều này dẫn đến sự vươn lên của những nhân vật như Booker T.Washington, người cho rằng Người da đen nên tập trung vào việc cải thiện các điều kiện của mình thông qua “tự giúp mình”, làm việc chăm chỉ và hợp tác với giai cấp thống trị da Trắng, từ bỏ triển vọng về cuộc đấu tranh chính trị vì bình đẳng.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc đen và Hiệp hội vì sự tiến bộ cho toàn dân châu Phi (UNIA) của Marcus Garvey, được thành lập vào tháng 8 năm 1914 với mục đích là hợp nhất toàn bộ châu Phi và cộng đồng của nó thành “một hệ thống phân cấp chủng tộc rất lớn”, là một phản ứng khác trước thất bại này và áp bức tồi tệ theo sau nó. Nhiều người tin rằng UNIA là phong trào lớn nhất của người da đen trong lịch sử Hoa Kỳ, với số lượng người tham gia nhiều hơn cả phong trào Dân quyền trong những năm 1950 và 1960. Garvey là người đề xướng chính của phong trào “Trở lại Châu Phi”, tập trung trên hết vào việc phát triển kinh tế ở thuộc địa Liberia để cho phép người Mỹ gốc Phi tái định cư. Ông tin rằng người Mỹ da đen nên có một quê hương vĩnh viễn ở châu Phi: “Thành công của chúng tôi về mặt giáo dục, công nghiệp và chính trị là dựa trên sự bảo vệ một quốc gia do chúng tôi thành lập. Và quốc gia đó không thể là nơi nào khác ngoài Châu Phi.”

Tuy nhiên, nhiều người khác đã tìm cách cải thiện tình hình của họ bằng cách di chuyển ra khỏi miền Nam. Ngay từ cuối những năm 1870, hàng chục ngàn người da đen đã rời khỏi miền Nam để đi tìm kiếm vận may ở các thành phố phía Bắc và Trung Tây. Vào đầu thế kỷ, chín mươi lăm phần trăm người da đen sống ở miền Nam, trong cái gọi là “Vành đai Đen”, chiếm một phần ba dân số ở đó, trái ngược với chỉ một phần trăm ở miền Bắc. Nhưng bắt đầu vào khoảng năm 1915, sự đàn áp không thể chịu đựng được ở miền Nam đã dẫn đến cái được gọi là “Cuộc di cư vĩ đại”. Ước tính có 1,6 triệu người da đen đã rời khỏi khu vực từ năm 1910 đến 1940 để tìm kiếm cơ hội việc làm và giáo dục tốt hơn. Tuy nhiên, họ không thể thoát khỏi sự phân biệt chủng tộc, mà, như một phần cấu thành của hệ thống tư bản Mỹ, gặp được ở mọi nơi mà họ đến. Ở nhiều nơi, sự phân biệt chủng tộc được tăng cường do những dòng người da đen đến từ miền Nam

Sự phân biệt đối xử trên thực tế là tiêu chuẩn ở miền Bắc, đặc biệt là trong công việc, nhà ở và giáo dục. Ở nhiều khu vực, người da đen không thể phục vụ trong các hội thẩm, và nhiều thành phố đã biến nó thành một chính sách - để khiến họ cảm thấy “không được chào đón” - bằng mọi cách cần thiết. Lối hành hình kiểu Linsơ ít xảy ra hơn so với miền Nam nhưng không phải không được biết đến, với các cuộc tấn công đám động hoặc “các cuộc nổi loạn chủng tộc” nhằm vào người da đen xảy ra ở khắp mọi nơi từ Philadelphia đến Houston, Duluth, từ MN đến East St. Louis. Các nhà nghiên cứu và học giả nổi tiếng đã tạo ra các “bằng chứng khoa học” về sự thấp kém của người da đen để biện minh cho tình trạng công dân hạng hai của họ.

Đảng viên Dân chủ miền Nam Woodrow Wilson đã được bầu làm tổng thống năm 1912, và ông đã mang những ý tưởng công khai về siêu quyền lực trắng của mình đến văn phòng hàng đầu của quốc gia. Ông đưa ra luật hạn chế quyền dân sự cho người da đen và có hiệu lực tái phân tách chính phủ liên bang. Ông là một fan hâm mộ lớn của bộ phim Sự ra đời của một Quốc gia năm 1915, nhân kỷ niệm ngày thành lập Ku Klux Klan, thứ đã xuất hiện trở lại và đang đạt được sự ảnh hưởng nổi bật trên toàn quốc. Đến năm 1924, KKK mới đã có khoảng 4 triệu thành viên và kiểm soát hoặc ảnh hưởng ở một số chính quyền bang, không chỉ ở miền Nam, mà còn cả ở Indiana, California, Oklahoma và Oregon. Một số nhà sử học thậm chí còn cho rằng người kế nhiệm Wilson, Warren G. Harding đã được giới thiệu vào KKK tại một buổi lễ được tổ chức tại Nhà Trắng.

Chính trong thời kỳ thất bại này, với sự từ bỏ mở rộng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và sự phân biệt đối xử được thi hành bằng bạo lực tàn nhẫn, mà một ý thức và phong trào dân tộc da đen hàng loạt nhằm mục đích hình thành một nhà nước riêng biệt đã có thể bén rễ. Với sự tập trung số lượng lớn người da đen ở một số bang miền Nam, cơ sở vật chất cho sự phát triển như vậy đã có mặt. Thật vậy, trong một thời gian, những ý tưởng của Marcus Garvey đã nhận được tiếng vang nhất định trong các tầng lớp quan trọng của dân số Đen. Nhưng bắt đầu từ thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là vào giữa những năm 1930 với sự trỗi dậy của CIO, cuộc đấu tranh Đen đã một lần nữa diễn ra dưới hình thức hành động đoàn kết với những người công nhân da trắng chống lại những kẻ bóc lột chung của họ. Điều này đi cùng với một tầng lớp tinh hoa và văn hóa da đen đang phát triển ở những nơi như Harlem và Chicago, giống như phong trào bãi nô trước đó, vượt qua các dòng chủng tộc, và sau đó sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống phân biệt đối xử. Quan trọng nhất, các nhà máy đang ngày càng trở nên hợp nhất hơn khi các nhà tư bản thuê số lượng lớn công nhân da đen ở các thành phố trên cả nước.

Như Marx đã giải thích nhiều thập kỷ trước đó, Nội chiến và sự đập tan chế độ nô lệ là tiền đề cần thiết cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên lục địa Mỹ. Chính điều này đã dẫn đến việc tăng cường phong trào của giai cấp công nhân:

“Ở Hoa Kỳ của Bắc Mỹ, mọi phong trào độc lập của công nhân đều bị tê liệt miễn là chế độ nô lệ còn làm biến dạng phần nào nền Cộng hòa. Lao động không thể giải phóng bản thân trong làn da trắng, nơi màu đen được gắn nhãn hiệu. Nhưng thoát khỏi cái chết của chế độ nô lệ, một cuộc sống mới ngay lập tức nảy sinh. Thành quả đầu tiên của Nội chiến là sự khuấy động kéo dài tám tiếng đồng hồ, chạy với đôi ủng bảy mũi của một đầu máy từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương, từ New England đến California. Đại hội chung của Liên đoàn Lao động Quốc gia tại Baltimore (ngày 16 tháng 8 năm 1866) tuyên bố: 'Điều cần thiết đầu tiên và lớn nhất của hiện tại, để giải phóng sức lao động của đất nước này khỏi chế độ nô lệ tư bản, là việc thông qua một đạo luật trong đó tám giờ sẽ là ngày làm việc bình thường ở tất cả các bang của Liên minh Hoa Kỳ. Chúng tôi quyết tâm đưa ra tất cả sức mạnh của mình cho đến khi đạt được kết quả tuyệt vời này.” (Tư bản, tập 1, Chương X., Phần 7)

Các điều kiện khủng khiếp của sự bóc lột và khủng hoảng kinh tế đầu những năm 1930 cuối cùng đã dẫn đến một sự bùng nổ lớn của phong trào lao động và các cuộc đấu tranh cay đắng dẫn tới việc thành lập Đại hội các Tổ chức Công nghiệp (CIO). Hàng trăm ngàn công nhân đã đoàn kết vượt qua các dòng chủng tộc để bảo vệ lợi ích giai cấp cơ bản của họ.