1918: NĂM ĐẦU TIÊN CỦA CÁCH MẠNG NGA (PHẦN III)

Cuộc cách mạng Nga đã diễn ra trong Thế chiến thứ nhất, do vậy chiến tranh và hòa bình là một trong những vấn đề quan trọng. Việc lật đổ Sa hoàng và thành lập một chính quyền dân chủ vào tháng 2 năm 1917 được Chính phủ lâm thời, và SR cùng Menshevik chiếm đa số trong Xô Viết Petrograd, xem như là một sự biện minh cho nỗ lực tiếp tục chiến tranh nhân danh bảo vệ cuộc cách mạng.


Trong thực tế, điều này chỉ có nghĩa là bảo vệ giai cấp tư sản, vì họ là giai cấp được trao quyền nhiều nhất bởi cuộc Cách mạng đầu tiên của năm 1917. Đảng Bolshevik đã khẳng định rằng chiến tranh phải chấm dứt và hòa bình phải đạt được trên cơ sở không có sự thôn tính hay bồi thường. Điều này được hầu hết những người Bolshevik ủng hộ. Tuy nhiên, có một số người trong đảng, đặc biệt là Kamenev, đã công khai tán thành sự cần thiết phải tiếp tục cuộc chiến trên cơ sở bảo vệ cuộc cách mạng. Lenin đã phản đối lập trường này trong Luận cương tháng Tư của mình, ông nhận ra rằng quần chúng đang tuyệt vọng mong mỏi chấm dứt chiến tranh. Ông còn lập luận rằng vị trí của chủ nghĩa bảo vệ cách mạng trong một nhà nước tư sản chỉ là một trò lường gạt lòng tin của công nhân và kích động lòng yêu nước và chủ nghĩa Sô vanh hiếu chiến. Từ tháng Tư đến tháng Mười, những người Bolshevik đã kiên định lập trường rằng một cuộc cách mạng Bolshevik với sự kết thúc chiến tranh bằng một hòa ước dân chủ và cuộc cách mạng vô sản ở châu u, tất cả là một quá trình tổng thể và không thể tách rời.

Chủ nghĩa quốc tế và chiến tranh cách mạng

Truyền thống của Đảng Bôn-sê-vích là quan điểm quốc tế chủ nghĩa triệt để. Nó cho rằng chủ nghĩa dân tộc là một phần không thể thiếu của hệ thống tư bản và các cuộc chiến tranh là hệ quả tất yếu của chủ nghĩa dân tộc đó. Họ cũng thực hiện nghiêm túc khẩu hiệu Marxist quốc tế ban đầu, "công nhân trên toàn thế giới đoàn kết, bạn không có gì để mất ngoài xiềng xích của chính mình". Ngoài ra, những người Bolshevik cũng khẳng định một cách mạnh mẽ rằng một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga không thể tồn tại nếu không có một hoặc nhiều nước tư bản tiến bộ cũng trở thành xã hội chủ nghĩa và liên kết với giai cấp vô sản Nga.

Những người Bolshevik tin rằng sự kết thúc của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa địa chủ ở Nga sẽ nâng cao tinh thần của công nhân và nông dân và làm cho họ mạnh hơn bất kỳ đối thủ nào. Cuộc chiến giai cấp mới này sẽ đánh thức quần chúng quốc tế. Điểm này là rất quan trọng để hiểu tại sao đảng đã chấp nhận những vị trí khác nhau trong các cuộc đàm phán hòa bình và vấn đề về chiến tranh cách mạng. Sau khi thành lập nhà nước của công nhân và nông dân, Lenin về nguyên tắc không chống lại cuộc chiến tranh cách mạng chống lại các thế lực đế quốc, nhưng nhìn vào thực tế cụ thể, ông hiểu rằng quần chúng không muốn chiến đấu, ngay cả đối với nhà nước của công nhân , ít nhất trong giai đoạn này. Trong mọi trường hợp, nhà nước non trẻ không có đủ nguồn lực để tiến hành một cuộc chiến dưới bất kỳ hình thức nào và đến tháng 12 năm 1917 đã phải đối mặt với nội chiến. Do đó, Lenin hoàn toàn phản đối một cuộc chiến tranh cách mạng ở giai đoạn này. Nhưng đa số trong ban lãnh đạo đảng thì không. Điều này đã đặt bối cảnh cho một cuộc đấu tranh kéo dài và cuối cùng, gây thiệt hại trong Đảng Bolshevik, nó chỉ được giải quyết vào tháng 3 năm 1918.

Sắc lệnh hòa bình và đình chiến với Đức

Một trong những sắc lệnh đầu tiên, được ban hành một ngày sau Cách mạng Tháng Mười, bởi chính phủ mới là vấn đề hòa bình. Nó kêu gọi tất cả các quốc gia hiếu chiến dừng cuộc chiến ngay lập tức trên cơ sở của một hòa ước công bằng và dân chủ, không có sự thôn tính hay bồi thường, và cho phép tất cả các quốc gia có quyền tự quyết trong một cuộc bỏ phiếu tự do. Đồng thời, sắc lệnh bãi bỏ ngoại giao bí mật, kêu gọi đàm phán công khai và minh bạch, bãi bỏ tất cả các hiệp ước bí mật được chế độ cũ đồng ý, tuyên bố rằng các hiệp ước bí mật đó sẽ được công bố. Cuối cùng, chính phủ kêu gọi đình chiến ngay lập tức.

Sau các cuộc đàm phán ban đầu giữa phái đoàn Liên Xô với Đức và các đồng minh của nó, một hiệp định đình chiến đã được thống nhất vào ngày 2 tháng 12. Nó cho phép 28 ngày trước khi các cuộc đàm phán về hòa bình toàn diện diễn ra. Nó cũng đồng ý duy trì các vị trí quân sự hiện tại, và hơn nữa đồng ý rằng Đức sẽ không gửi quân tới mặt trận phía tây vì đình chiến và sẽ cho phép một mức độ tình huynh đệ giữa các quân đội.

Trotsky, sau một số phản đối về vai trò của anh ấy, đã được bổ nhiệm làm Chính ủy Ngoại giao và cuối cùng lãnh đạo tất cả các cuộc đàm phán diễn ra tại Brest-Litovsk: một thị trấn nhỏ ở biên giới Nga-Ba Lan, nay là ở Belarus.

Chính sách đối ngoại, dưới thời Trotsky, bao gồm phần lớn là các lời kêu gọi công nhân và các nhóm cách mạng trên toàn thế giới để tổ chức một cuộc cách mạng thế giới. Ông rất chú ý đến vai trò truyền thống của một Bộ trưởng Ngoại giao, nói rằng, "công việc của tôi là xuất bản các hiệp ước, ban hành một số tuyên bố mang tính cách mạng và rồi đóng cửa tiệm". Các hiệp ước bí mật trước đây đã nhanh chóng được công bố, các đại sứ được triệu hồi và những điều ước mới được gửi đi. Tiền đã được tạo sẵn cho các tổ chức cách mạng quốc tế. Báo chí khích động đã được xuất bản, nhằm vào công nhân nước ngoài và tù nhân chiến tranh. Về phần mình, các chính phủ nước ngoài đã bác bỏ những nỗ lực của Nga để có được những phản ứng thân thiện và tất cả các quốc gia đều phản đối bất kỳ mối quan hệ nào với những người Bolshevik. Tuy nhiên, đã có liên lạc giữa Nga và các đại sứ nước ngoài và ban đầu các đồng minh hy vọng sẽ thuyết phục được Nga tiếp tục chiến đấu với Đức. Khi điều này thất bại, sự phản đối của họ đối với Bolshevik Nga nâng lên một bậc.

Đàm phán tại Brest-Litovsk và sự chia rẽ nội bộ

Sau hiệp định đình chiến, các cuộc đàm phán đã khởi động lại tại Brest-Litovsk, với Joffe là người ban đầu dẫn đầu phái đoàn Nga. Những cuộc thảo luận đã không có hồi kết. Phái đoàn Liên Xô đề xuất lập trường của mình về các cuộc thôn tính và quyền của các quốc gia để hưởng tự do chính trị và chấm dứt các thuộc địa. Các cường quốc trung tâm (Đức, Áo - Hung, Thổ Nhĩ Kỳ và Bulgaria), do Tướng Hoffmann của Đức lãnh đạo, chỉ đồng ý ngoài mặt những yêu cầu này vì họ không có ý định từ bỏ Ba Lan hoặc các quốc gia Baltic đang dưới quyền kiểm soát của họ. Hơn nữa, giờ đây trong phái đoàn của họ còn có đại diện của Rada Ukraine (một quốc hội do những người theo chủ nghĩa dân tộc lãnh đạo), làm suy yếu tuyên bố của Liên Xô là đại diện cho tất cả các lãnh thổ của Nga. Cuộc tấn công của hồng quân chống lại quân đội dân tộc chủ nghĩa ở Ukraine chỉ mới bắt đầu.

Trotsky tiếp quản vị trí lãnh đạo phái đoàn Liên Xô vào năm mới và hy vọng rằng các chiến thuật trì hoãn sẽ có lợi cho họ theo cách sử dụng các cuộc đàm phán như một nền tảng để tuyên truyền. Có những dấu hiệu nổi dậy nhất định giữa các công nhân ở Áo và Đức và trong số các binh sĩ và thủy thủ của họ. Các cuộc đình công xảy ra ở Áo vào giữa tháng 1 và sau đó trong tháng đã xảy ra các cuộc đình công nghiêm trọng ở Berlin, Hamburg, Danzig và Kiel. Cuối cùng, các cường quốc trung ương đã tìm cách phá vỡ bế tắc bằng cách nêu rõ yêu cầu của mình đối với Liên Xô là nhượng lại toàn bộ lãnh thổ hiện đang bị Đức chiếm đóng ở miền Bắc và đàm phán biên giới phía nam với Rada của Ukraine. Trotsky quyết định rằng giờ đây ông cần phải quay lại Petrograd để thảo luận với các lãnh đạo để có đáp áp tốt nhất. Sau đó, một loạt các cuộc tranh luận và bỏ phiếu được bắt đầu. Trong cuộc họp đầu tiên, 63 người Bolshevik hàng đầu đã tranh luận về vấn đề hòa bình. Lenin lập luận cần đổi lấy hòa bình bằng bất cứ giá nào để bảo vệ tuyến đầu của cuộc cách mạng và chờ đợi thời điểm tốt hơn. Mặc dù uy tín của Lenin, ông chỉ nhận được 15 phiếu. 32 phiếu, chủ yếu là những người Bolshevik ở Moscow do Bukharin lãnh đạo, ủng hộ cho một cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Đức và các đồng minh thay vì chấp nhận các điều khoản của họ. Trotsky chiếm vị trí thứ ba không chiến không hòa mà tiếp tục trì hoãn các cuộc đàm phán lâu nhất có thể với hy vọng rằng cuộc cách mạng sẽ nổ ra ở Đức và nếu cần thì tuyên bố hòa bình đơn phương khi bị dồn ép. Ông có 16 phiếu.

Vài ngày sau, Ban chấp hành trung ương đảng họp và Lenin lại kêu gọi hòa bình ngay lập tức. Chỉ có Stalin là ủng hộ ông rõ ràng nên Lenin đã đồng ý với vị trí trì hoãn của Trotsky và điều này đã được thông qua với 12-1. Chỉ có hai, Bukharin và Dzerzhinsky, ủng hộ theo đuổi một cuộc chiến tranh cách mạng.

Trotsky trở lại cuộc đàm phán sau đó vào tháng 1, nhưng sau khi trì hoãn nó càng lâu càng tốt, ông đã tuyên bố đơn phương kết thúc chiến tranh. Sau đó anh bước ra khỏi cuộc hội đàm. Bảy ngày sau, Bộ Tư lệnh tối cao Đức tuyên bố sẽ tiếp tục chiến sự. Tuyên bố hòa bình đơn phương của Bolshevik là một tín hiệu cho tất cả các công nhân và binh lính tham gia vào cuộc nổi dậy để chống lại các nhà lãnh đạo của họ và tham gia cuộc đấu tranh. Điều này đã không xảy ra và Phe Trung tầm ngay lập tức mở rộng chiến sự. Gặp rất ít kháng cự, họ nhanh chóng tiến lên trên mọi mặt trận.

Trong khi đó, Ủy ban Trung ương Bolshevik đã liên tục tổ chức các phiên họp. Lenin một lần nữa kêu gọi tìm kiếm thỏa thuận với người Đức, nhưng chỉ nhận được 4 phiếu so với 6, với Trotsky bỏ phiếu phản đối. Lenin sau đó đặt ra câu hỏi: nếu quân đội Đức tiến lên và không có cuộc cách mạng ở Đức và Áo thì sao? Kết quả 6-1, với 4 phiếu trắng (Trotsky đã về phía Lenin), đó là sự tán thành rằng, trong trường hợp này, cần phải có hòa bình. Người Đức tiếp tục tiến bộ. Vấn đề đã được tranh luận vào ngày hôm sau. Mặc dù có một số sự vận động, việc bỏ phiếu cho sự do dự của Trotsky mang tới kết quả 6-5. Nhưng đến tối thì rõ ràng sự tiến bộ của Đức rất mạnh và nước Nga bị đe dọa. Tới lúc này Trotsky đã về phía Lenin và Ủy ban Trung ương đã đồng ý yêu cầu đàm phán hòa bình vào ngày 7-5. Các cơ quan đảng và Liên Xô khác nhanh chóng phê chuẩn quyết định này, mặc dù không phải không có sự chia rẽ, và một bức điện tín được gửi đi đồng ý với các điều khoản hòa bình mới.

Hiệp ước Brest-Litovsk cuối cùng và sự phê chuẩn

Tuy nhiên, Đức không vội vã chấp nhận và tận dụng tối đa vị thế của mình, tiến sâu vào Ukraine và các khu vực khác. Cuối cùng, người Đức đã đưa ra những điều khoản mới, thậm chí khắc nghiệt hơn trước: Liên Xô phải rút khỏi Ukraine, Litva, Estonia và Phần Lan và nhượng lại lãnh thổ ở phía nam cho Thổ Nhĩ Kỳ. Hiệp ước cũng yêu cầu Liên Xô công nhận Chính phủ Quốc gia Ukraine hay Rada. Hậu quả của Hiệp ước đối với nền kinh tế Nga Xô viết là vô cùng lớn. Họ đã mất một số khu vực sản xuất quan trọng nhất của Nga, đặc biệt là ở Ukraine với tài nguyên lớn về than, công nghiệp và nông nghiệp. Tổng cộng họ đã mất 40% công suất công nghiệp, 45% nhiên liệu, 90% đường, 70% công nghiệp luyện kim và 55% tiềm lực lúa mì.

Những điều khoản quá khắc nghiệt này khiến nhiều lãnh đạo Bolshevik, đặc biệt là ở khu vực Moscow, một lần nữa phản đối và không chấp nhận phê chuẩn. Theo sau đó là một cuộc tranh luận sôi nổi khác trong Ủy ban Trung ương Bolshevik. Lenin bỏ phiếu cho sự chấp nhận, và lần này tuyên bố sẽ từ chức nếu không đạt được ủng hộ. Trotsky phản đối nhưng cuối cùng, vẫn bỏ phiếu trắng, cũng như Dzerzhinsky, Joffe và Krestinsky, mang lại cho Lenin đa số 7-4. Đầu tháng 3, Chính phủ Liên Xô đã ký các điều khoản mới ở Brest-Litovsk. Việc phê chuẩn nội bộ hoàn toàn phải trải qua nhiều cơ quan khác nhau và các cuộc tranh luận đã nổ ra. Tại Đại hội Đảng Bolshevik lần thứ bảy vào tháng 3 năm 1918, Trotsky một lần nữa nhắc lại sự phản đối của ông về việc chấp nhận các điều khoản khắc nghiệt như vậy nhưng tuyên bố ông sẽ không bỏ phiếu chống lại Lenin. Điều này sau đó đã được thông qua bởi 28 phiếu trên 9. Tại Ban chấp hành trung ương toàn Nga, sau diễn văn của Lênin nó được thông qua với tỷ lệ 116 trên 84. Ngày 16 tháng 3, Đại hội Xô viết toàn Nga, sau 2 ngày tranh luận sôi nổi, nghị quyết chính phủ được phê chuẩn với tỷ lệ 784 trên 262.

Nhắc lại những chi tiết này là để cho thấy truyền thống tranh luận và dân chủ nội bộ trong Đảng Bolshevik và Nước Nga Xô viết vào thời điểm này. Truyền thống này, mặc dù nhất thiết phải kiềm chế trong các điều kiện cấp bách của Nội chiến vào cuối năm 1918, tuy nhiên vẫn là trung tâm của Đảng Bôn-sê-vích miễn là Lenin và Trotsky vẫn ở vị trí lãnh đạo. Đó là bằng chứng để phản bác quan điểm sùng bái cá nhân sau này của Stalin, cho thấy Lenin, mặc dù có vị thế to lớn trong đảng và trong hàng ngũ công nhân, vẫn bị nhiều đồng chí lãnh đạo công khai phản đối trong suốt quá trình này. Khi ông bị đánh bại, ông đã chấp nhận nó và chiến đấu với lý lẽ không thể lay chuyển trong các cuộc họp và bằng các bài viết.

Trên thực tế, một đặc điểm đáng chú ý của Lenin là ở mọi giai đoạn và thời điểm của Cách mạng, ông không chỉ thúc đẩy quá trình trong thực tế, theo sát từng chi tiết, mà còn viết các bài báo, nghị quyết và thậm chí là các tác phẩm dài hơn. Đúng là, trong giai đoạn cuối của các cuộc tranh luận về Brest-Litovsk, Lenin đã đe dọa sẽ từ chức nếu quan điểm của ông không được chấp nhận, nhưng đây là sau nhiều tháng tranh luận gay gắt và vào thời điểm sống còn của cuộc cách mạng. Lenin luôn coi nó là quan trọng, trong giai đoạn phát triển thế giới này, để giữ cho cốt lõi của cuộc cách mạng được an toàn.

Cánh tả của đảng, xung quanh Bukharin, công khai tuyên bố rằng họ đã chuẩn bị cho một sự chia rẽ trong đảng và sẵn sàng hy sinh cuộc cách mạng trên bàn thờ của cuộc chiến tranh cách mạng quốc tế. Lenin đã coi đây là hành động ngu xuẩn và đã viết một bài phê bình cay nghiệt vào tháng 2 năm 1918,“Kỳ quặc và Quái dị” . Trong bài viết này, Lenin đã cho thấy quá trình tranh luận trong đảng được thực hiện như thế nào. Ông vẫn bảo vệ mạnh mẽ quyền bày tỏ quan điểm của phe cánh tả:

“Là một lẽ tự nhiên khi các đồng chí bất đồng gay gắt với Ủy ban Trung ương về câu hỏi về một nền hòa bình riêng biệt nên đã lên án mạnh mẽ Ủy ban Trung ương và bày tỏ niềm tin rằng việc chia rẽ là không thể tránh khỏi. Tất cả điều đó là quyền chính đáng nhất của đảng viên, điều này khá dễ hiểu.”

Nhưng, ông không quên lên án lý luận của họ là “điều kỳ quặc và quái dị”, cũng không ngần ngại gọi họ là những nhà cách mạng rỗng tuếch. Ngay sau khi kết thúc tiến trình Hòa bình được rút ra này, ông đã viết một bài quan trọng nêu ra các vấn đề rộng lớn hơn,“Tính trẻ con cánh tả và Tinh thần tiểu tư sản”. Ông đã trở lại chủ đề này hai năm sau đó vào năm 1920 khi ông viết “Chủ nghĩa Cộng sản cánh tả: Một sự bừa bãi ấu trĩ”.